Bỏ qua nội dung

Đọc thơ ĐAN THANH

Đặng Công Hanh

       Đan Thanh là bút hiệu của một cô giáo, cựu học sinh Phan Châu Trinh Đà Nẵng khóa 57 – 64. Học sư phạm, rồi đi dạy. Đến tuổi giã từ học sinh và xa trường, xa bụi phấn, liền dấn thân vào nghiệp thi phú, văn chương. Đã xuất bản thơ và tùy bút, đồng thời tích cực hoạt động cho cựu học sinh PCT khóa học 57 – 64.

Đã trải qua bao thăng trầm, qua bao nhiêu sóng gió trường đời, từ một tiền kiếp xa xôi nào đó,  nơi mà định mệnh nhân sinh được tẩm ướt bằng giọt nước mắt. Có thể đó là những giọt lệ bi thương: “Nước mắt lặng bỗng lăn dài trên má / Xin trở lại tìm chút xưa vàng đá /Gởi tình anh theo mây trắng chơi vơi”.

Và cũng có thể đấy là những giọt sương long lanh trên ngọn cỏ đẹp vô chừng trong khoảnh khắc ban mai:  “Hãy yêu thương và tha thứ khi có thể / Em đã khóc lúc chào đời xin hãy mỉm cười khi từ biệt thế gian”.

Buồn vui, yêu hận, loanh quanh trong một kiếp người của một đời lãng tử trôi nổi bập bềnh trên biển đời để nghe trong ta một thời xa xưa. Thế giới thơ và thế giới thực của người làm thơ, không phải là một, nhưng chẳng phải hai. Có lúc buồn, lúc vui với chính mình, với tình người, với tình đời, thế nên người làm thơ trong một phút chốc tan biến vào thế giới cô liêu, tịch liêu và sự hiện hữu của mình gần như bị ném vào một cuộc lãng du vô định và bất tận: “Hãy khóc đi em và lau khô nước mắt / Cả sống chết cũng chỉ cách nhau trong gang tấc / Cứ giữ mãi buồn đau làm sao em bước tiếp”.

Thế giới thực mà không thực. Nhà thơ cũng chỉ là hữu thể tại thế, một mảnh đời được ném ra đó, để tự mình sáng tạo nên giá trị của sự sống. Trên góc nhìn này, giá trị nhân sinh tồn tại nơi nhà thơ chỉ là mảnh vụn bị lãng quên như những ưu tư, khắc khoải, sầu muộn, ưu phiền… chất đầy bóng tối não nùng trong các câu thơ vần điệu. Vì thế ở nơi thơ, là một góc nhìn của thế giới, nhìn xuyên qua và nhìn sâu vào tinh thể của tồn tại, như bóng câu, đến rồi đi, cái còn đọng lại chỉ là bóng mờ của quá khứ. Và nhà thơ bị ném vào cuộc nhân sinh, âm thầm ghi dấu phong ba của trần tục lụy.

Mùa xuân cuộc đời đi qua 

Hạ đã sang thu, rồi mùa đông tàn tạ

Không thể hồi sinh cái chết của màu xanh

Cuộc đời trôi như chiếc lá giữa dòng kênh

Không trở lại và không bao giờ quay lại nữa 

*

*     *

Đọc thơ của Đan Thanh, bên ngoài khoát y trang nho nhã của cô nữ sinh ngày tháng cũ, dịu dàng thơ ngây “Vẫn nhói lòng vẫn xao xuyến chiều mưa”. Đôi khi tỏ ra vụng về, ngây dại, đáng yêu: “Dãy bàn cuối có khắc tên hai đứa / Dòng lưu bút viết cho em cuối buổi…” Nhưng tận bên trong lại cưu mang một tâm tình phản kháng, phản kháng lại cái định mệnh đam mê trong chính mình. Đam mê thể hiện nên dạng thô thiển là khao khát. Khao khát là hy vọng, là thuộc tương lai.  Khao khát tự thân là không bao giờ thỏa mãn. Phản kháng chống lại chính mình là chống lại những xúc cảm bồng bột trong ta và nhà thơ vẫn không thể vượt qua khỏi cái bóng định mệnh của chính mình, thế nên nhà thơ đã chấp nhận:

“Tuyệt vọng đau thương làm sao có thể đổi thay

Bởi núi cao biển rộng đất dày, một ngày nào đó có thể biến hành hoang mạc”

 

 

BÓNG TRƯỜNG XƯA

Đan Thanh

Em hớn hở khoe anh ngày tao ngộ
Trời tháng năm màu nắng mới xôn xao
Mấy mươi năm mà cứ tưởng  hôm nào
Dãy lớp cũ , hành lang xưa gợi  nhớ

Em có về nhớ ghé vào chốn cũ
Hàng kiền kiền  chừ …ngăn ngắt lên xanh
Kỉ niệm thoảng hương nhớ nhặt giùm anh
Của năm tháng mộng mơ và sách vở
Của áo trắng của một thời hoa đỏ
Của tình anh màu phượng thắm nao nao

Em có về nhớ nhắn giúp thầy cô
Học trò cũ vẫn còn yêu kính lắm
Tóc bạc trắng tình vẫn xanh ..xanh thắm
Ngẩn ngơ nhìn theo nắng …nắng rơi rơi

Bạn bè ơi
Thương nhớ đến bồi hồi
Nước mắt lặng bỗng lăn dài trên má
Xin trở lại tìm chút xưa vàng đá
Gửi tình anh theo mây trắng chơi vơi

Nhớ nghe em
Hãy đến chỗ anh ngồi
Dãy bàn cuối có khắc tên hai đứa
Dòng lưu bút viết cho  em cuối buổi
Hát tặng nhau bài Biển Nhớ
Chiều mưa …

Con đường Duy Tân che bóng nắng ngày xưa
Nơi gấp khúc cầu thang  có mong người năm cũ
Ký ức yêu thương bụi thời gian che phủ
Vẫn nhói lòng vẫn xao xuyến chiều mưa

Xin được một lần về lại chốn xưa
Về tìm lại những tháng ngày thân ái
Dẫu chỉ một lần nhưng là mãi mãi
Một lần thôi là …muôn thuở
Trường ơi !

 

NỖI ĐAU ĐIỀU KHÔNG THỂ

Đan Thanh

Em
Em hãy thôi hy vọng hạt chết sẽ nảy mầm xanh
Hãy thôi tin vào tình yêu của người phản bội
Xin hãy đừng tin cánh hoa tàn tạ
…có một ngày rực rỡ sắc hương
Hãy điềm tỉnh mĩm cười trước cuộc sống nhiễu nhương
Hãy lặng im bởi cuộc sống vô thường
Khi bị vu oan , hãy bình tâm đón nhận
Hãy từ bỏ khi lòng đau
Hãy nghỉ ngơi khi mệt mỏi
khi em khổ vì không ai thấu hiểu
Hãy tự khẳng định mình và bước tiếp nghe em
Con đường nhân sinh rất đổi gập ghềnh
Như giọt mật : đắng lúc buồn và sẽ vui khi ngọt
Khi cô đơn tủi buồn đau xót.
Em hãy tự mình lặng lẽ vượt qua
Đừng nuôi lớn hận thù
Xin em hãy thứ tha
Hãy khóc đi em và lau khô nước mắt ,
Cả sống chết cũng chỉ cách nhau trong gang tấc
Cứ giữ mãi buồn đau làm sao em bước tiếp
Hãy mạnh mẽ nhé em
và luôn hướng về phía trước
Bởi mặt trời đỏ rực hôm qua không thể nào làm khô chiếc lá hôm nay
Tuyệt vọng bi thương làm sao có thể đổi thay
Bởi núi cao biển  rộng đất dày , một ngày nào đó có thể biến thành hoang mạc
Con đường cheo leo dốc cao ghềnh thác , có thể một ngày hoá bình địa an vui
Hãy can đảm đứng lên dù bị dập vùi
Khép cánh cửa này , cánh cửa kia sẽ mở
Để giữ tình yêu có khi không cần hoàn hảo,

Phải sống thật lòng đừng toan tính thiệt hơn

Vết thô được che sau hào nhoáng lớp sơn,
Thời gian công bằng sẽ phô bày sự thật
Nhan sắc,  tuổi xuân , một ngày kia sẽ mất
Hãy thương thân mình và độ lượng với tha nhân
Oán trách hờn căm chỉ làm khổ riêng em
Bởi kẻ không yêu , rất hả hê khi nhìn em gục ngã
Mùa xuân cuộc đời đi qua ,
Hạ đã sang thu
Rồi mùa đông tàn tạ
Không thể hồi sinh cái chết của màu xanh
Cuộc đời trôi như chiếc lá giữa dòng kênh
Không trở lại và không bao giờ quay lại nữa
Hãy yêu thương và thứ tha khi có thể
Em đã khóc lúc chào đời xin hãy mĩm cười khi từ biệt thế gian
Hoa sẽ nở trong tâm hồn
Khi em  thanh thản bình an

MUÔN KIẾP NHÂN SINH

Đặng Công Hanh

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

(Nguyễn Công Trứ)

Thuở còn học ở nhà trường phổ thông đệ nhị cấp, nay gọi là cấp 3, chúng ta được học thơ của Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858). Ông là tác giả những bài thơ nổi tiếng khẳng định chân giá trị con người ông – một kẻ sĩ chân chính.

Xu thế thời đại lúc bấy giờ, hàng lớp sĩ phu xác định lấy công danh làm con đường nhập thể tích cực thông qua cửa ải thi cử để ra làm quan.

“Chí làm trai nam bắc đông tây

Cho phí sức vẫy vùng trong bốn bể”

Thế nhưng, ông đã vô cùng lận đận trong khoa cử, mãi đến 42 tuổi mới đổ cử nhân. Ông được bổ nhiệm làm quan dưới triều Minh Mạng và Thiệu Trị, đã trải qua bao lần thăng trầm, nếm mùi bi kịch của xã hội chuyên chế khắc nghiệt, đầy rẫy những tệ nạn xã hội của cường hào ác bá, quan lại hèn nhát, ông cảm cảnh đau khổ của dân tình mà than thở.

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

*

*        *

Lúc bấy giờ, ở lứa tuổi học trò, đầu óc còn non trẻ nên việc học văn chương, triết học chỉ dừng lại ở hiểu biết qua lời giảng trên mức độ phổ thông đáp ứng thi cử, chứ chưa thật sự thấu hiểu. Từ biết đến thấu hiểu còn một khoảng cách rất xa, cho đến khi trở thành niềm tin còn tùy thuộc vào độ trải nghiệm thực tế và căn duyên của mỗi người. Tuy vậy, ở trên đời còn có những chuyện xin “đừng đợi thấy mới tin”.

Kiếp sau (tái sinh), luân hồi, nhận quả nghiệp báo, đã được người xưa suy tư về cái chết, chính là kỹ cương trong mục đích cứu vớt, không phải là một hình phạt. Dù không tin vào kiếp sau đi nữa, nhưng nếu biết nhìn thẳng vào thực tế cũng là điều tốt, hữu ích và khoa học.

Con người, tâm thức và mọi hiện tượng đều dính liền với một nguyên nhân nào đó và chúng biến đổi trong từng giây phút, từng khoảnh khắc và cũng nhờ đó sự thăng tiến mới có thể xảy ra được. Tri thức có thể định nghĩa như luồng ánh sáng hàm chứa sự hiểu biết. Nó chiếu rọi vì bản chất của nó là sự trong sáng. Tri thức cảm nhận được vật thể theo phong cách mà nó đã quen thuộc từ trước.

Theo ngài Đạt Lai Lạt Ma, tri thức có nghĩa là sự nhận biết được cấu tạo bằng những đoạn nhỏ của khoảnh khắc thời gian, nhưng không phải bằng các tế bào hay những hạt cơ bản vật chất. Do đó bản chất của tri thức và vật chất hoàn toàn khác biệt từ căn bản. Như thế những nguyên nhân thực thể của chúng cũng khác biệt. Nhưng không phải vì vậy mà chúng không tương tác với nhau. Vật chất tạo điều kiện hiện hữu cho tâm thức. Như có lần nhà khoa học cũng vừa là Thiền sư Matthieu Ricard nói rằng phần thân xác của ta làm cơ sở chống đỡ hay nền tảng cho phần tri thức. Bất cứ một khoảnh khắc tri thức nào cũng đòi hỏi phải có một khoảnh khắc tri thức khác xảy ra trước đó làm nguyên nhân thực thể. Điều này có nghĩa là tâm thức hay tâm linh gồm cả xúc cảm, sự  suy nghĩ, tình cảm và những xung năng tiềm ẩn, hàm chứa một sự tiếp nối liên tục không khởi thủy. Vì vậy, chuỗi tiếp nối liên tục (continue) là những gì lưu lại trong kiếp sống về sau.

Tri thức còn gọi là thức thuộc vi phạm trù tinh thần (hay tâm thức). Nghiệp được tạo ra do Thức, vì nó sinh khởi các ý niệm phân biệt nên tạo ra nghiệp nhân. Khi nghiệp nhân xảy ra, nó có thể đem lại một hậu quả ngay lúc này hay có thể xảy ra lúc khác.

Nói cách khác, từ kiếp sống này qua kiếp sống khác, cái duy nhất được duy trì là nhân (hay hạt giống) được lưu trữ trong kho gọi là tàng thức (một thuật ngữ Phật học). Do đó tàng thức chứa đựng tất cả các hạt giống của nghiệp lực và chúng đi theo mỗi cá nhân như hình với bóng từ kiếp này qua kiếp khác.

Phật giáo quan niệm rằng sức sống con người được hình thành bằng ba yếu tố:

– Sinh lực giúp người ta sống, khi sinh lực cạn dần người ta sẽ già và chết.

– Hơi ấm hay khí là sự chuyển dòng sinh lực tạo ra năng lượng.

– Tàng thức sẽ ảnh hưởng đến đời sống của con người theo luật nhân quả. Khi chết là Tàng thức ra đi và dẫn dắt người ta đi vào đời sống ở kiếp khác dưới dạng thức khác tương ứng với nghiệp lực của họ. Kiếp sống con người thì có hạn, nhưng Tàng thức thì không bao giờ hết, kéo dài liên tục và đó chính là vòng luân hồi vô tận.

Sự chết, tái sinh, nghiệp lực là những khái niệm hết sức quan trọng. Đó là những biên giới mà hiện nay khoa học chưa đạt đến, không thể giải thích được. Chúng ta xem đó là niềm tin, không phải niềm tin đơn thuần, mà phải trực tiếp trải nghiệm quan sát, kiểm chứng một giai đoạn dài và thấy nó hợp lý và giải thích được vì sao nó trở thành một chân lý.

Nếu không tin tưởng vào sự tái sinh, vào vòng luân hồi thì làm sao hiểu và giải thích về những trường hợp các đứa trẻ gọi là thần đồng với năng khiếu bẩm sinh đặc biệt, chẳng hạn.

– Mozart đã biết soạn nhạc từ lúc bốn tuổi. Đến lúc tám tuổi, ông đã chủ trì các buổi hòa tấu và cũng đã bắt đầu soạn nhạc cho các loại nhạc khí khác nhau mà ông chưa bao giờ kinh qua một lớp nhạc lý nào cả.

– Beethovei cũng đã bắt đầu soạn nhạc từ thuở lên ba và sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ khác nhau.

– Thiên tài Galileo vừa là nhà Toán học vừa là nhà thiên văn. Ông đã đưa ra lý lẽ bằng chứng về quỹ đạo của các hành tinh từ khi còn rất nhỏ.

– Văn hào Stuart Mill có thể nói và viết thông thạo tiếng Hy Lạp và tiếng La Tinh từ lúc lên bốn, mặc dù thân sinh của ông ở tại Anh và chỉ biết tiếng Anh.

Còn rất nhiều hiện tượng tương tự như vậy xảy ra trên khắp thế giới. Khoa học giải thích các trường hợp đó như thế nào nếu chúng ta không tin rằng con người đã trải qua nhiều kiếp sống và đã từng được dạy dỗ, học hỏi trong quá khứ.

Theo quan niệm của Phật giáo thì tất cả những gì mình làm hay suy nghĩ (tạo nghiệp) đều lưu giữ trong Tàng thức (A – lại – da thức). Thức này chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống con người và là nguồn gốc tất cả hiện tượng tinh thần, dưới hình thức là những chủng tử (hạt giống, thông tin). Khi những chủng tử này phát động đều do những nhân duyên thích hợp vượt ngoài sự hiểu biết của chúng ta. Cũng từ đó, phải chăng tính tình, nhân cách con người đều chịu ảnh hưởng từ cá nhân của chủng tử đã gieo trồng trong quá khứ.?

Theo con đường này thì con người phải trải qua rất nhiều kiếp sống với những thăng trầm và học hỏi  qua sự đau khổ cho đến khi nó trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng đã mấy ai đã tin như thế và câu hỏi ngược lại, tạo sao con người sinh ra để  rồi sống duy nhất một lần và chết là hết? Tại sao có người được sanh ra đã sung sướng, trong khi có người lại sinh ra lại gặp cảnh bần cùng? Không ai có thể trả lời những câu hỏi này nếu người ta không tin vào luật Luân hồi và Nhân quả.

Luật Luân hồi nói rằng, khi sinh lực chuyển hóa thành cá nhân đơn lẻ, nó sẽ tái sinh nhiều lần qua những kiếp sống khác nhau để học hỏi. Từ đó, nó sẽ biết cách thanh lọc các yếu tố ô nhiễm qua kinh nghiệm của những kiếp sống.

Luật Nhân quả rất đơn giản cho rằng tư tưởng, lời nói hay hành động phải xuất phát từ con người đều tạo ra kết quả tương ứng. Kết quả này có thể tức thì hay qua một thời gian sau hay kiếp sau.

Tin hay không tin là quyền của mỗi người, nhưng quan niệm rằng có nhiều kiếp sống khác nhau hay luân hồi là niềm tin đã có từ ngàn xưa. Các tôn giáo như Phật giáo, Ấn giáo, Thiên chúa giáo đều dạy như thế. Các nhà thông thái, các triết gia như Plato, Pythagoras hay Aristoteles đều tin rằng sau khi chết sẽ có đời sống kế tiếp.

Gần đây, trong một lần phỏng vấn của nhà báo Pháp là ông Jean – Claude Carirère, ngài Đạt – Lai – Lạt – Ma nói rằng: “Tái sinh và hóa thân là hiện thực, y như các nguyên tử là hiện thực vậy. Nếu một số người không tin tái sinh là hiện thực, tôi cho rằng họ vô minh”. Ông nói tiếp tục: “Đó không phải là tín ngưỡng mà là hiện tượng vật lý”.

Nếu con người phải trải qua rất nhiều kiếp sống để học hỏi, vậy con người đến từ đâu? Quan điểm của vật lý hiện đại, con người thật ra chỉ là năng lượng trong vũ trụ và dạng năng lượng uyên nguyên này hiện diện khắp nơi trong vũ trị. Dạng năng lượng này tạm gọi tên là “thực thể”. Thực thể này còn có tên tương đồng là Chân như, Tâm thức vi tế… Năng lượng này khi tiếp xúc với những yếu tố bản địa ở những địa phương hành tinh khác nhau thì thay đổi thành loại năng lượng mới tùy thuộc yếu tố vật lý hóa học nơi đó. Sự biến đổi này thích hợp với hoàn cảnh địa phương hành tinh nào đó và trở thành một sinh lực thích hợp, những sinh lực hóa hiện trên thân xác cụ thể thành những thực thể có sự sống.

Đây là một lý thuyết khoa học, nhưng chưa có thể chứng minh. Tuy nhiên, nó được nhiều nhà khoa học lỗi lạc tiền bối như N-Bohr, E-Schrodinger;
W-Heisenberg đều cho rằng có giá trị.

Theo lý thuyết này, sự sống hay sinh lực vốn là nội dung năng lượng, nên sau khi chết thì năng lượng sẽ chuyển hóa qua một dạng thức khác. Vì theo các định luật khoa học thì năng lượng không thể được sinh ra hay mất đi (định luật bảo toàn và chuyển hóa). Năng lượng là một cái gì đó bất biến theo không – thời gian và chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Cũng vì thế, chết chỉ là chuyển hóa sinh lực con người qua một hình thức mới dựa theo quy luật Nhân quả.

Trong hình thể mới, nó vẫn tiếp tục thanh lọc những yếu tố ô trọc và cũng có thể trong hoàn cảnh mới nó lại tiếp thu thêm những ô nhiễm khác trong tiến trình thanh lọc để quay về nguồn cội, quay về đời sống thiêng liêng. Con người trong mỗi kiếp sống thường tìm mọi cách loại bỏ những khổ đau bên ngoài bằng những sinh hoạt phù phiếm, thúc đẩy bởi sự thèm khát và rồi ta sẵn sàng đánh mất sự thăng bằng của chính ta nghiêng về giá trị vật chất, sống trong đam mê và đi đến chỗ tạo ra những hành động xấu.

Theo các bậc đại trí, các bậc hiền triết, xưa và nay cho rằng có thứ kỹ thuật nhằm vào sự loại bỏ khổ đau trong kiếp nhân sinh trên một bình diện sâu xa hơn cho đến mãi kiếp sau. Đó là việc tu tập tinh thần. Tu tập tinh thần là tổ chức lại tư tưởng từ căn bản, đòi hỏi phải thay đổi thái độ, loại bỏ những hành vi vô bổ, lấy tình thương là bước đầu cho việc phát triển trí thông minh. Trí thông minh là bước đầu cho việc phát triển trí tuệ và trí tuệ là yếu tố quan trọng nhất để thanh lọc những yếu tố ô trọc trên bước đường quay trở về với cội nguồn uyên nguyên. Họ là những người luôn luôn học hỏi, thay đổi và biết làm chủ mọi hành động để chuyển hóa các thói quen tiêu cực để trở thành hiền triết, thánh nhân.

Tình thương ở đây có nghĩa là thương yêu  vô điều kiện hoàn toàn đối với các sinh linh không phân biệt hay thiên vị. Tình thương yêu là sự bổ túc cho từ bi. Lòng từ bi không thể tồn tại hoặc sẽ không phát triển nếu không có lòng yêu thương.

Từ bi trong đạo Phật là nỗi mong muốn chữa trị tất cả các hình thức đau khổ và đặc biệt giải quyết tận gốc của sự vô minh là gốc của mọi bất thiện trong thế gian, là một đặc tính của đau khổ do tình trạng tâm thức không thấy sự vật hiện tượng như nó là.

Do đó lòng từ bi, phần thì dành cho kẻ đau khổ, phần thì cho tâm trí nơi sinh ra đau khổ. Thế ta mới hiểu được cái sâu sắc trong trật tự ca từ mà người nhạc sĩ tài hoa đã cảm xúc; ông Trịnh Công Sơn viết: Yêu em yêu thêm tình phụ / Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ.

Đây là cơ hội, là điều kiện rất quan trọng trong sự phát triển thăng tiến của con người, vì từ lúc này họ cần trở nên hữu dụng, có giá trị cho gia đình và cho xã hội. Nếu không như thế, sự theo đuổi những mục tiêu của trần thế suốt kiếp nhân sinh bằng sự ham muốn, quyến luyến, kiêu hãnh, ghen ghét, hận thù… tất cả những trạng thái tâm trí ấy gọi là vô minh. Chúng ta không còn cơ hội để chuyển hóa, thanh lọc những ô trọc chuẩn bị cho kiếp sau.

CÕI MỘNG ĐƠN SƠ

Đặng Công Hanh

“… Ai vo tròn ném mạnh

Cho ta lăn giữa đời”

(Tình quê)

Tôi đọc thơ của chị, nhà thơ Bích Bửu, hiền thê anh Đoàn Ngọc Tri, bạn học ngày xưa.

Một thời rất xa, có bậc tri giả đã nói như đùa rằng: “Giới hạn của ngôn ngữ là văn chương, giới hạn của văn chương là thi ca, giới hạn của thi ca là âm nhạc và giới hạn của âm nhạc là sự im lặng”.

Thế nên, nhà thơ đã có nhiều điều được nói, và chất liệu để nói có thể nghe và có thể cảm nhận được bởi nhiều người, thế nhưng trong tận cùng sâu thẳm điều đã nói lên, trong thoáng chốc chìm vào sự im lặng của thế giới vô ngôn, Thế giới ấy hiện thực hay hư ảo cũng mang đầy những hoài niệm hay ước mơ.

“Nếu em biết, có lần em nghiêng nón

Để nắng chiều đổ xuống một bên vai

Có ai đó thương thầm, làm thơ ngơ ngẩn

Em nghiêng nón hoài để ươm mộng tương lai”

(Nếu em biết)

Đọc xong chuỗi dài các bài thơ, tôi gấp lại. Thẩn thờ, trầm ngâm đi tới đi lui trong phòng vắng lặng, bất chợt len lỏi một nỗi buồn mênh mang trầm mặc xâm chiếm tâm hồn, và nhanh chóng trở nên ngọn gió hư vô buốt lạnh bởi do nhiều năm quen sống với tư duy lạnh lùng của Toán học, tập tành học Phật trong các pho Kinh luận nên đã trơ lì những cung bậc cảm xúc. Tự nhận ra mình vẫn còn là kẻ lãng tử phong trần, chân quyết bước trên con đường Đạo mà lại còn nhiều nghiệp chướng, thân tâm bụi bặm, một hành nhân sắm bè chuẩn bị “gate, gate, paragate, parasamgate” nhưng lại còn vương vấn nợ trần nên khập khiển chân chưa muốn bước xuống bè để sang sông. Thế nên:

Giọt mù sương cố quận

Bước chân về dặm xa

Xa vời bóng Thích ca…

(Bùi Giáng)

Chị, nhà thơ Bích Bửu tuy tuổi đã xế chiều:

Sợi nào xanh biếc thời son trẻ

Sợi trắng dần theo mỗi chuyện đời!

(Trước gương)

Nhưng bằng trực giác mỹ cảm đã vượt qua rào cản thời gian. Để thay vì nghe bằng đôi tai, nhưng ở đây bằng thị giác của tâm thức mà nhìn vào hiện thực và những ý tưởng ấy mờ ảo đến độ như vô hình mà cũng rất thực như từng giọt nắng chiều trong lòng tay

Hoàng hôn về lả ngọn

Ủ rũ cỏ đợi sương

Lúc muôn loài say ngủ

Cỏ thức chờ trăng suông

(Cỏ và đất)

Mùa xuân hay mùa thu cùng trong một tình thơ đó, mịn như tơ trời và lung linh triền miên theo gió thổi. Triền miên và triền miên, đó là cái cung bậc của bịn rịn, của da diết, của vương vấn. Lồ lộ trong cơn gió thanh xuân, mà e ấp trong một tình thơ diệu vợi, càng đơn bạc, càng nồng nàn.

… Đưa em đến trường, gió nam thổi ngược

Xe đạp song song, anh hát, em cười

Tiễn đưa nhau, đi tới, lại quay lui

Đường ngắn quá! thời gian trôi nhanh quá!

(Đòi nợ)

Tình yêu hiện thực chạy dọc theo thời gian để ghi dấu những khoảnh khắc mất mát trong chờ đợi ngây thơ, trong ray rứt bởi hoài niệm với những vệt màu sẫm thấp thoáng mà vẫn không mờ nhạt theo bóng thời gian

“… Tình như mây, gió đưa đường rong ruổi

Lòng ta là khung trời rộng bao la

Trời dù rộng không ôm trọn mây xa

Chỉ cảm nhận mây chập chờn đâu đó”

(Ta vẫn yêu)

Đây quả thực là cõi phiêu bồng của phương trời viễn mộng trong mối tình chớm nở nụ hồng. Tình thơ nồng đượm cũng báo hiệu cho tình duyên hay cuộc tình nợ:

“Ta vẫn yêu, dù tình như mây gió

Ta vẫn yêu, dù đời có đổi thay”

(Ta vẫn yêu)

Từ tâm tình đến cuộc tình, từ cuộc tình đến cuộc hẹn và đưa nhau vào cõi mộng đơn sơ. Từ cõi mộng đơn sơ đến phương trời viễn mộng xa xôi. Trong cõi đó, nhà thơ khoác áo lữ khách thấy mình bươn bả ra đi và trong lòng cảm khái như một mối sầu cô lữ, thấy mình lưu lạc một phương trời đọa đày viễn mộng.

“… Ta một thời mộng mơ

Nao nức nhưng mong chờ

Xây đỉnh cao ước vọng

Chợt một chiều bơ vơ”.

Thế nên, tình cố quận, tình tha hương, trong những ngày dài lưu lạc vào chân trời phương ngoại cho những ngày tháng bôn ba, hồn thơ tuy bay cao, vẫn còn đồng vọng. Lời thơ nặng trĩu nhưng ngậm ngùi và tiếc nuối tháng ngày ấu thơ êm đềm.

“… Ta muốn về với tuổi thơ chân đất

Nhảy nhót quanh làng, ca hát vui chơi…”

(Nhớ quê)

Hoặc

“Ta nhớ lắm! nhưng phải đành ly biệt

Nhớ bà con, nhớ làng xưa tha thiết

Hẹn ngày về sống lại giữa trời quê!

(Nhớ quê)

Chị, nhà thơ Bích Bửu đã không ít lần được tôn vinh qua các giải thưởng cao toàn quốc của Hội Nhà văn, lại là người đang khoác áo vương giả ngồi trên nhung lụa mà giàu xúc động cho thân phận bọt bèo, cho sự đời hư ảo của nhân sinh. Thơ của chị vẫn giữ cái phong vận bình dị sâu lắng nhưng hiu hắt trong bóng tối của lầu son gác tía, lại cõi thơ và hồn thơ nâng niu tâm tình của một dân tộc qua bao cảnh vật đổi sao dời, qua những trận cuồng phong của lịch sử. Ở nơi thơ, là một góc nhìn của thế giới nhân sinh và từ đó để nhìn xuyên qua và nhìn sâu vào tồn tại: “Vạn pháp do duyên sinh. Vạn pháp do duyên diệt” (Kinh Pháp cú). Vậy thì thời đại như bóng câu qua cửa sổ, cái tồn đọng lại như là tồn tại của bóng mờ của quá khứ.

“Rong chơi trần thế phù vân

Thấy người giả dối, ta khoanh tay nhìn!

Người ham danh lợi, bạc tiền

Vui đời hoan lạc, lãng quên nghĩa tình!

Ta leo chót đỉnh phong trần

Tay không dính bụi, trong ngần hồn thơ

Nhân gian dù có hững hờ

Vầng trăng nhân ái chẳng mờ trong ta!

(Có một vầng trăng)

Vầng trăng nhân ái mà nhà thơ đã viết ở câu cuối bài thờ chính là khái niệm hóa sự phản chiếu của một tâm hồn đã an vui, một tâm hồn đã đến được trung tâm của Đạo, của vũ trụ hồn nhiên như nhiên.

Cố giáo sư Nguyễn Đăng Thục, người có sức uyên bác về Triết học Đông phương tại Đại học Văn khoa Sài Gòn có viết rằng: “Khi đã có tâm hồn vui đạo, luôn luôn cảm thông với người sống thiên nhiên, siêu nhiên tràn ngập trong không thời gian thì làm sao mà lo nghĩ đến sống chết, qua khứ vị lai. Bất cứ lúc nào cũng hiện tại, mà chỉ có hiện tại mà thôi, vì có sự hiện diện của Đạo thì mỗi khoảnh khắc cũng là cả một vĩnh cửu vô thủy vô chung vậy”.

Xin mạo muội mượn lời của cố thi sĩ Bùi Giáng tạm biệt anh chị.

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau.

 Đặng Công Hanh

 

TRANG THƠ BÍCH BỬU

 

TÌNH QUÊ

Ta về thăm cố quận

Tìm kỷ niệm yêu thương

Chân bước đi thơ thẩn

Lòng trĩu nặng u buồn

Cảnh vật cũ còn đây

Người thân xa vắng rồi

Ai vo tròn ném mạnh

Cho ta lăn giữa đời !

Ta thấy ta đâu đó

Trong dáng dấp thư sinh

Áo học trò trắng muốt

Giữa lòng quê thanh bình

Lũy tre xanh, vẫn xanh

Da trời chiều thiên thanh

Lúa non thì con gái

Xinh tươi và hiền lành

Ta một thời mộng mơ

Nao nức những mong chờ

Xây đỉnh cao ước vọng

Chợt một chiều bơ vơ !

Trở lại với cố hương

Lang thang khắp nẻo đường

Hít gió nồm đầy ngực

Thêm sức đi muôn phương

Xin gửi lời chào bạn

Bắt tay mừng anh em

Ta lại đi mất hút

Vào cuộc sống bon chen

Tình quê hương sâu lắng

Trong lòng người tha hương

Cách trăm sông, nghìn núi

Vẫn da diết nhớ thương !

​​

 

TRƯỚC GƯƠNG

Soi tóc, ngỡ ngàng thương mái tóc

Giật mình sợi lạc cánh mai rơi

Sợi nào xanh biếc thời son trẻ

Sợi trắng dần theo mỗi chuyện đời !

Soi mắt, mắt trĩu buồn sụp mí

Tìm đâu thấy nữa nét tinh anh !

Ngời trông mắt Phật từ bi quá

Soi sáng trần gian, ánh nghĩa nhân

Soi miệng, nhớ xưa hoa miệng nở

Môi hồng, răng trắng, nụ cười duyên

Thời gian dần xoá màu tươi trẻ

Có phải mình, hay kẻ chẳng quen?

Soi lòng, gương chẳng cho hình được

Tự vấn bao đêm để thấy lòng

Không gợn nếp nhăn, không gợn đục

Mặc cho mặt lạ, giữ lòng trong./-

 

 

CÓ MỘT VẦNG TRĂNG

Rong chơi trần thế phù vân

Thấy người giả dối, ta khoanh tay nhìn!

Người ham danh lợi, bạc tiền

Vui đời hoan lạc, lãng quên nghĩa tình !

Ta leo chót đỉnh phong trần

Tay không dính bụi, trong ngần hồn thơ

Nhân gian dù có hững hờ

Vầng trăng nhân ái chẳng mờ trong ta !

 

 

ĐÒI NỢ

Trả đi anh, những hồn nhiên tuổi trẻ

Cho em về làm chim nhỏ vườn xưa

Gió sớm mai và nắng ấm ban trưa

Em nhảy nhót, hát ca cùng chúng bạn

Trả đi anh, những mê say cuồng loạn

Bao nhớ nhung quay quắt đợi chờ nhau

Giấc mộng tương lai thêu dệt bao sắc màu

Đêm trăng sáng đường quê nào hẹn ước

Đưa em đến trường, gió nam thổi ngược

Xe đạp song song, anh hát, em cười

Tiễn đưa nhau, đi tới, lại quay lui

Đường ngắn quá! thời gian trôi nhanh quá !

Trả cho em chàng thư sinh ngày đó

Thanh lịch, dịu dàng, nho nhã, tươi vui

Chàng thanh niên miệng luôn nở nụ cười

Không vướng bận nợ công hầu khanh tướng!

Chàng thanh niên trong ánh nhìn độ lượng

Yêu mến cuộc đời qua mộng tưởng yêu em

Mắt ngời lên bao sức sống, niềm tin

Trán không hằn nỗi lo áo cơm, nhà cửa…

Trả đi anh còn rất nhiều thứ nữa

Anh đã cầu Thượng đế ban cho em

Anh nguyện biến thành chất dinh dưỡng vào tim

Qua mạch máu, nuôi em toàn cơ thể…

Chàng trai ngày nào giờ đâu rồi nhỉ ?

Ơi người tình – bạn tri kỷ của thơ ta !

Đừng lặng im, thời gian sẽ trôi qua

Lo trả bớt, thương tình em … xoá nợ !

 

 

NẾU EM BIẾT

Nếu em biết có lần em nghiêng nón

Để nắng chiều đổ xuống một bên vai

Có ai đó thương thầm, làm thơ ngơ ngẩn…

Em nghiêng nón hoài để ươm mộng tương lai

Nếu em biết ai nhìn em chải tóc

Dòng suối huyền mà mượt lướt qua tay

Mà thơ ai lững lờ như sương khói

Mân mê em lùa cho tóc gió tung bay

Nếu em biết tô má màu nắng lụa

Thơ ai hoa Hồng nở rộ giữa ban mai

Em thâu hết ngàn lung linh nắng sớm

Để thơ ai vương vấn mộng đêm dài

Nếu em biết, hay vô tình bắt gặp

Ai nhìn em và không kịp chối quanh

Thì đâu biết đường đời gập ghềnh, hay thẳng tắp

Sao thơ còn giữ được nụ tươi xanh !

Em mãi mãi vẫn là em như thế

Nét kiêu sa ai tô vẽ nên thơ

Xin dừng gót trên tháp ngà ký ức

Em vẫn yêu kiều trong giấc ai mơ…

 

 

TA VẪN YÊU

Vẫn biết yêu là cho đi tất cả

Không so đo đòi hỏi thiệt hơn

Sao xa nhau tim đau nhói ghen hờn !

Và gần gũi có niềm vui chiếm hữu ?

Tình như mây, gió đưa đường rong ruổi

Lòng ta là khung trời rộng bao la

Trời dù rộng không ôm trọn mây xa

Chỉ cảm nhận mây chập chờn đâu đó

Tình như gió, hồn ta khung cửa nhỏ

Mời gió vào, nhưng gió thoảng bay xa

Cửa đóng nhanh không giữ gió giùm ta

Gió phảng phất khi hồn ta mở ngõ

Ta vẫn yêu! Dù tình như mây gió

Ta vẫn yêu! Dù đời có đổi thay

Ta vẫn yêu! Dù năm tháng vơi đầy

Ta vẫn yêu! Dù tim nầy ngừng đập.

 

THUỞ BAN ĐẦU

Em chỉ muốn anh là chàng thư sinh mười tám

Để mỗi ngày “chép phạt” một ngàn câu

Ngàn câu “yêu em”, như cái thuở ban đầu

Gọi bằng “chị” với mắt nhìn trìu mến

Nâng niu giữ gìn từng trang kỷ niệm

Không dám nói nhiều sợ “chị” giận làm sao !

Sợ mặt trời, sợ cả trăng sao

Ngày sẽ hết và đêm rồi sẽ sáng!

Chàng thư sinh nghiêng nghiêng vành mũ trắng

Để bạn đứng giữa đường tắm nắng hạ trời trưa

Mà lòng chàng thương, thương mấy cho vừa

Muốn thâu không gian chỉ còn gang tấc

Chàng thánh thiện từ tâm linh thể xác

Như thiên thần thoát thiên giới vì em

Giọng chàng ấm tựa tiếng nhạc dịu êm

Trang thơ tình ru hồn ai ngây dại…

Em đắm đuối giữa vòng vây tình ái

Quên tháng ngày em mê mãi về đâu

Nhớ làm sao! Chàng thư sinh trìu mến thuở ban đầu! 

 

 

 

 

NIỆM TƯỞNG VỀ NGƯỜI THẦY: CÔ PHÙNG KHÁNH

Đặng Công Hanh

Chúng tôi thuộc lớp thế hệ học trò đầu tiên của cô tại trường Phan Chu Trinh – Đà Nẵng, sau khi vừa tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế. Nhưng cuối năm học 60 – 61, cô nhận được học bổng sang Mỹ du học, từ đó chúng tôi không còn có dịp gặp lại người thầy của mình. Và sự đời vẫn tiếp diễn những cơn biển dâu kỳ lạ, thách thức dữ dội đối với những tâm sự giang hồ và những cuồng vọng tuổi thanh xuân, mà ai cũng mong mỏi đem cái hùng tâm tráng khí ra đặng thi thố trong thời buổi điêu linh, nhục nhã của quê hương loạn ly.

Kính vong linh Cô

Một vài năm sau đó, sau ngày cô du học ở đất Mỹ, chúng em cũng xa trường, mỗi đứa mỗi ngã. Tự thâm tâm của mình cảm nhận được rằng mình đang được thúc đẩy bởi một động lực khó cưỡng, đó là khát vọng chinh phục, chinh phục tình yêu, chinh phục danh vọng, chinh phục địa vị. Nhưng rồi, nhìn từ góc độ theo hướng này hay theo hướng kia, chúng em như những trẻ con đuổi theo cánh bướm, mỏi mắt theo cánh bướm này rồi đến cánh bướm khác. Như thể rằng cánh bướm là lẽ sống, nên phải đoạ đày cả tâm trí lẫn hình hài của mình.

Có điều dễ thấy rằng sự hiểu biết của chúng em về con đường trước mắt không phải do chính mình đã nhận thấy rõ con đường mình đang đi, mà do dấu vết của nhiều thế hệ trước đó đã đi, dù rằng trong họ có không ít người bước ra khỏi bóng đêm của rừng rậm bằng chính đôi mắt của họ. Họ đã không nhìn thấy những giá trị cao cả của đời sống, và các giá trị đó không cao hơn các nấc thang xã hội ước định.

Hiện thực trần trụi thời chiến tranh, một thời buổi nhiễu nhương, số phận không may phải ngụp lặn mờ mịt vào một lý tưởng xa xôi mơ hồ. Dù biết suy nghĩ hay không suy nghĩ, vẫn luôn luôn có một cái gì đó xô đẩy đời sống đi về hướng này hay đi về hướng khác. Một cái gì đó mang tính quyết định số phận mà ít khi nhận ra được cái ấy là cái gì, dẫu biết đó chỉ là vết tích của cánh nhạn bay qua cuối trời vạn dặm.

 

Trên một góc nhìn nào đó trong thầm lặng, để nhìn xuyên qua và nhìn sâu vào tính thể của tồn tại thì thời đại ấy như bóng câu đến rồi đi, cái còn đọng lại như là tồn tại của bóng mờ của quá khứ.

Các lớp thanh niên cùng trang lứa lần lượt lên đường theo tiếng gọi núi sông. Vẫn đó đây âm vang ngàn đời câu hỏi sống, chết, ai còn, ai mất? Bức tranh vân cẩu ấy, cõi nhân sinh ấy là gì? bởi nên có tiếng than thở ngậm ngùi

“Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó

Chốn đào nguyên anh khoác áo khinh cừu”

(Bùi Giáng)

Tuổi học trò, lứa tuổi đan dệt và thêu thùa nhiều mộng tưởng hảo huyền, đó là một thứ quà tặng đượm dinh dưỡng mà chất liệu là sự tàn phá, sụp đổ và mất mát. Cộng hưởng cùng nỗi thống khổ phi lý của chiến tranh đau thương dai dẳng, như ngọn lửa đốt cháy những nụ cười, những mơ mộng, hồn nhiên của quá khứ. Đó dường như là sự khởi đầu khoảng trống của hoài niệm. Vả chăng hoài niệm cũng sẽ chỉ là một hiện hữu bất thực trong sự trầm tư lặng lẽ của hư không.

Bẳng đi một thời gian không lâu lắm, chúng em cứ tưởng cô vẫn còn miệt mài nghiên cứu ở Mỹ, miền đất hứa cho sự phát triển tinh hoa của trí tuệ. Cô đã hoàn thành sớm và trở về nước cuối năm 1963 và làm việc tại Viện cao đẳng Phật học, sau này là Viện Đại học Vạn Hạnh.

Một quyết định lớn trên con đường Đạo hạnh của cô là vào năm 1964, cô quyết định dứt trần duyên, cắt tóc xanh xuất gia qui y tại chùa Hồng Ân ở Huế và được thọ giới Sa Di Ni. Năm 1970, thọ Tỳ kheo ni và Bồ Tát giới tại Đại Giới Bàn Vĩnh Gia ở Đà Nẵng. Thời gian này cô tiếp tục làm giảng sư tại Thiền Viện Vạn Hạnh và giảng dạy tại các Trường cao cấp Phật học, Viện Phật giáo Việt Nam với pháp danh Thích Nữ Trí Hải.

Năm 2003, cô được cử vào Phó ban khảo hạch Đại giới đàn Thiện Hoa ở Từ Nghiêm và cuối năm này cô được suy cử Phó Viện Trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam và Trưởng ban vận động tài chánh.

Ngoài những hoạt động giáo dục hoằng pháp, cô còn dành nhiều thời gian cho việc phiên dịch, biên soạn và in ấn kinh điển để giúp Tăng ni, Phật tử, có thêm tài liệu nghiên cứu học tập. Về chuyển ngữ có 38 đầu sách, về biên soạn có 14 đề tài. Đối với các sách ngoài Phật học cô có 12 tác phẩm trong số đó có các tác phẩm nổi tiếng được quan tâm rộng rãi với độc giả như “Nhà khổ hạnh và gã lang thang (Pháp,  H-Hesse); Bắt trẻ đồng xanh (J-D Salinger); Câu chuyện dòng sông (H-Hesse).

Riêng tập sách “Câu chuyện dòng sông” dịch từ bảng Anh ngữ Siddhartha, được nhà xuất bản Lá Bối phát hành đầu tiên 1965 – 1966. Nhưng vì một lý do nào đó, mà năm 2003 cô lại viết một bài tổng quan dài 40 trang đăng trong sách Nguồn mạch tâm linh với lời bạt: “Câu chuyện dòng sông trước hết là một tác phẩm văn học nghệ thuật, cho nên bất cứ một phân tích nào về phương diện tư tưởng đều mang ít nhiều tính chủ quan do người đọc tự gán cho nó. Bởi thế những ai phê phán sách này phỉ báng đạo Phật hay đề cao đạo Phật, đều không nhằm chỗ”…

“Trọn tác phẩm của Herman Hesse là lời thánh ca bay vuốt lên chín tầng trời, vọng lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôn luôn tha thiết đi tìm giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt… Tất cả tác phẩm đều nói lên niềm cô đơn tâm linh của con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn khát khao đi tìm một chân trời mới cho mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người”.

Quả là một điều hơi lạ vì thời gian kể từ tác phẩm được cô dịch và bài tổng quan là gần 40 năm. Có lẽ trong tác phẩm văn học đó có nhiều điều được nói, chất liệu để nói có thể nghe nhận bởi nhiều người, nhưng trong tận cùng điều được nói là một thế giới của vô ngôn, của im lặng. Nó cũng màu sắc như khi ta đuổi bắt ảo ảnh. Có thể là như vậy.

Hồi tưởng lại, lớp thế hệ chúng em cô dạy, lúc bấy giờ cô quá trẻ, dáng người nghiêm nghị, bước đi khoan thai và ung dung trong tà áo dài trắng. Trong lớp học, cô nhìn học trò của mình với đôi mắt rất hòa ái. Thỉnh thoảng trong những lần hướng nhìn qua khung cửa lớp, đôi mắt cô lại thoáng một chút mông lung như khói trầm, nhưng chắc có mấy ai biết được qua cái nhìn kia mà thấy được bóng dáng của huyền mộng phù sanh và đời người thì: “Xuân xanh xô cổng chạy dài, bỏ sương tuyết phủ, phượng đài phía sau” (Bùi Giáng).

*

*        *

Rồi một chiều cuối Đông năm 2003, trong chuyến đi Phật sự ở Phan Thiết cùng với ba em thị giả, trên đường trở về không may gặp tai nạn. Cô đã thâu thần thị tịch lúc 17 giờ 30 ngày 07 tháng 12 năm 2003, hưởng thọ 66 tuổi và đã trải qua một cuộc đời tu hành đầy cam go thử thách. Ra đi vội vã  như một đoá Ưu Đàm tươi ngát hương chợt bị cơn bão vô thường thổi cuốn vào cõi vô cùng, để bao thương tiếc ngậm ngùi cho kẻ ở lại trong đó có lứa học trò cũ chúng em, như Thầy Tuệ Sỹ hạ bút:

Cánh chim đã vượt qua vũng lầy sinh tử

Bóng nắng rọi lên dòng huyển hoá

Thân theo tro tàn bay

Hoa trắng, vỡ trên đại dương sóng cả

Sao trời chợt tắt giữa lòng tay

Sương còn đọng trên đầu cây lá

Đến rồi đi chập chờn nước lững vơi đầy.

Heo hút bờ hoang ảnh giả

Người sống mỏi mòn trong tiếc nhớ không khuây.

(Tuệ Sỹ)

 

ĐIỀU THAO THỨC THIÊNG LIÊNG

Đặng Công Hanh

“Con chim từ bỏ ruộng đồng

Là thôi cánh nhỏ chập chùng sương vây”

                                                      Hoài Khanh

Sự sống của con người là một phép mầu kỳ diệu. Chúng ta có cảm quan để có thể buồn bã, si tình và có lòng trắc ẩn đối với những người khác. Nhiều khi chúng ta có thể vận dụng đầu óc suy tư để phân tích và cố mường tượng ra vì sao một điều gì đó đã xảy ra, vì sao chúng ta có mặt ở đấy, và những gì sẽ xảy ra trong ngày mai ở chừng mực nào đó.

Có thể có những lúc chúng ta phải trải qua những thách thức cùng cực và  đau khổ khôn xiết. Đây là lúc giữ mình được tỉnh táo làm một con người không phải là chuyện dễ. Vào một lúc khác thì được làm con người thật là thú vị, đó là lúc làm được những công việc mình thấy hấp dẫn hào hứng; khi say mê những vẽ đẹp, vẽ hùng vĩ của thiên nhiên hay của nhân tạo, hoặc là chúng ta ngồi quanh cùng nhau thưởng thức tách ra ngon nghe kể chuyện trăng tàn.

Rồi cuối cùng, trạng thái tâm lý chung được làm con người là một phép mầu, và được sống là một ân huệ. Chúng ta ai ai cũng muốn như vậy và mong muốn được hạnh phúc. Đây là một động lực mạnh mẽ nhất của con người. Tìm kiếm bằng cách này hay cách khác, nhưng từ khát vọng tới thực hiện được nó là cả một quá trình rối rắm gian nan. Đó là bi kịch của con người. Họ rất sợ khổ đau nhưng lao vào nó. Họ ao ước hạnh phúc nhưng rõ ràng vẫn quay lưng lại nó.

Đã từ lâu, từ thuở hồng hoang của loài người cho đến ngày nay, con người đã tìm cách trả lời câu hỏi làm sao để có được hạnh phúc. Để có hạnh phúc ta phải sống như thế nào, ta phải biết điều gì?

Từ thế kỷ 17, thời điểm của cách mạng khoa học công nghệ, cho đến ngày nay, một số đông và ngày càng gia tăng số người cho rằng khoa học công nghệ đồng nghĩa với sự hiểu biết. Sự thu nhập thông tin được nuôi dưỡng bởi khoa học ngày càng phát triển và không có điểm dừng. Khoa học và công nghệ có thể làm nên nhiều điều kỳ diệu, nhưng có thể nói rằng không phải điều kỳ diệu nào cũng đem đến hạnh phúc cho con người. Tuy nhiên, phải thấy việc đáp ứng những nhu cầu cơ bản có thể giúp cho chúng ta có sự tươi vui về mặt thể chất và giảm nhẹ đi những nỗi lo toan nhọc nhằn cho chuyện cơm áo, tuyệt nhiên đấy không phải là một hạnh phúc chân thực, mà chỉ là sự an ủi về mặt tâm lý, sự thoải mái về mặt tình cảm và những ảo tưởng đẹp đẽ quen thuộc. Nếu chỉ đi tìm và tìm được một điểm cần tìm thì đó không phải là hạnh phúc thực sự. Bí mật của hạnh phúc là chúng ta không bao giờ có thể tìm kiếm nó ở bên ngoài. Bởi vì, ham muốn thì vô cùng, trong khi khả năng kiểm soát thế giới là hữu hạn, nhất thời và hảo huyền. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc chủ yếu là do tâm trạng của mình và tuy nhiên chúng ta không thể phải nhận một thực tế là hoàn cảnh bên ngoài cũng có một vai trò to lớn.

Thế nhưng, càng ngày chúng ta càng thấy rằng hạnh phúc đích thực vốn từ bên trong nội tâm mà ra. Hạnh phúc này có được do việc buông bỏ sự bám chấp vào những điều sai lầm về cuộc đời, về con người và nhất là trả lời được câu hỏi làm thế nào cho đời sống có ý nghĩa, không dẫn đến sự chán nản kéo lê cái cảm giác sống vô vị, buông theo dòng đời, đục nước, béo cò mà sống cho vui sướng?

Các nhà hiền triết và các bậc đạo đạo sư đều cho rằng hạnh phúc nhất thiết hàm ý nền tảng là sự khôn ngoan, vì không có nó thì sẽ không xác định đúng nguyên ủy của sự tri giác được như thế nào là nỗi bất hạnh cho đời mình, nên tạo ra sự bất mãn triền miên chế ngự tâm trí. Sự bất mãn đó không thoát qua được manh vuốt của độc tố tâm thần như tham lam, si mê, sân hận, được khởi sinh từ thế giới quan “di ngã vi trung“.

Duy Thức học hay Tâm lý học Phật giáo cho rằng tâm trí đóng vai trò căn bản trong sự thỏa mãn cũng như hạnh phúc và đau khổ. Tâm trí đứng đằng sau mọi trải nghiệm, là cánh cửa nhìn ra thế giới bên ngoài. Vì vậy, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của tâm trí, trong cách chúng ta tri giác con người và sự vật thì thế giới đó đã đổi thay.

Chẳng hạn, với chúng ta lúc này đây con người mình hiện trong đầu không phải là con người thực của mình, đây chính là hình ảnh trong tâm trí mà thôi. Có lẽ có quá nhiều kiểu cách nhận thức về hình ảnh của mình trong tâm trí về việc đôi khi nó rất tốt đẹp đôi khi nó không, đôi khi nó thông minh, đôi khi nó khờ khạo si mê. Và như thế các ý nghĩa về mình đều hoàn toàn sai lầm, hoàn toàn ảo tưởng, một cái gì đó không thật và có khi biến thái đến mức có những nhận thức không lành mạnh và tiêu cực.

Ông Bùi Giáng Cố thi sĩ lại vừa uyên thâm triết học, khi nhìn về tồn tại trong cảnh giới cao của tâm thức với tư cách một người đã an trú trong cảnh giới ấy, và những ấn tượng ông đã tạo ra trong thơ mang nhiều biểu tượng của tâm linh.

“Ta mở mắt mở hai mi và mở

Thấy chân trời trùng điệp ở bên trong

Nguồn thao thức tự bao giờ gãy đổ

Đã chơi vơi hòa mộng múa trăm vòng”

Có hai nếp sống diễn ra trong đời sống con người: nếp sống thông thường và nếp sống tâm linh. Không ít người nghĩ rằng nếp sống tâm linh bao gồm hạn định ăn chay thuần túy, không uống rượu, không hút thuốc lá. Thật ra nếp sống tâm linh chú trọng vào sự nội quán và khi thực hành nội quán là bắt đầu nếp sống tâm linh qua những dấu hiệu lòng khoan dung, sự thiện tâm…

Hơn thế nữa, lòng tin sâu xa về con đường tâm linh không phải mọc lên ngay sau vài sự bên ngoài. Phải xác định rằng, lòng tin ấy bắt rể từ sự khẳng định những chân lý cụ thể siêu hình và được chiêm nghiệm từng bước đối với những ai đã khai mở tâm trí mình.

Khai mở tâm trí khi tâm thức được lay động lôi ra khỏi sự giam cầm sâu xa của quy định thế tục và những thói quen nương náu trong những thánh đường giả tạo một thời gian như tích lũy tài sản, sự thành tựu công danh quyền lực theo ước mơ hoặc buông mình vào các trò giải trí, khi khuây khỏa tiệc tùng… Có rất nhiều những ảo tưởng tốt đẹp mà ta có thể tạo ra trong cuộc đời này, nhưng thực tế là những chuyện tầm thường xoay quanh nỗi ám ảnh được và mất, hài lòng và đau đớn, ca ngợi và buộc tội, danh tiếng và vô danh bé mọn..

Phải nhìn nhận rằng, ít nhiều chủng ta cảm nhận thấy triệu chứng của sự trống rỗng nội tâm và đây là động lực khiến ta đi tìm kiếm một cái điều gì đó, như thi sĩ Bùi Giáng, trong khoảnh khắc trầm tư biểu lộ qua tâm sự mình khi đối diện với nỗi cô đơn mênh mông.

“Ta ngó mãi những chiều về trở lại

Mang những gì về trong cõi trăm năm”

Chúng ta tìm kiếm tình bạn, tìm kiếm tình thương, tìm kiếm sự thành tựu. Trong lòng chúng ta lúc nào cũng tràn đầy khao khát không nguôi nỗi đau từ sự trống trải nội tâm, có thể mạnh mẽ đến mức làm cho ta sống nghiện ngập theo các quyến rũ từ những cái phù phiếm, làm xói mòn tâm trí và quấy rối niềm thanh thản. Và như thế ta đã nhân bội những nhu cầu thay vì học cách không có nhiều nhu cầu để giảm thiểu sự hành hạ bản thân mình hoang mang, cố tìm những thứ mà ta không thật sự cần.

Sự quyến rũ của việc luôn luôn ngày càng có nhiều thứ hơn và sự dàn hàng ngang của trí thức đều là những nhân tố đưa ta xa rời sự chuyển hóa nội tâm, làm gia tăng sự đau khổ. Bên trong nội tâm, chúng ta luôn luôn bị chi phối bởi những thúc giục của bản năng và đối với bối cảnh bên ngoài thì chúng ta không ngừng chạy theo  các xu hướng và biến động của xã hội khiến chúng ta không còn thấy đích thực bản chất của mình và của hiện thực. Trong suốt cuộc đời ta, xúc cảm đi qua tâm trí như một giòng sông dậy sóng và quyết định biết bao nhiêu trạng thái hạnh phúc và khổ đau.

Từ đó ta thấy rằng, một cuộc sống vẹn toàn không phải chỉ đơn giản là một chuỗi dài các giác cảm thích thú tiếp nối nhau từ ngày này sang ngày nọ, mà thật ra là một sự biến cải những cảm quan của ta về các biến cố bất an của hiện hữu, hầu giúp ta vượt lên trên các biến cố đó, dễ dàng đương đầu với sự thăng trầm của cuộc sống, vượt qua nỗi cô đơn và sự đau khổ thầm lặng ngấm ngầm bên trong của mình.

Cửa địa ngục hai bên lồng ngực

Phải vác theo trăm tuổi đường dài

Nên có gửi cho ai vài giọng nói

Cũng nghe buồn da diết chạy trên môi

                                             (Nguyên Sa)

*

*        *

Đức Phật nói rằng cảm giác giống như là những bong bóng nước và nhận thức của chúng giống như các ảo ảnh. Các bong bóng trông rất thật nhưng khi chạm vào thì chẳng còn và ảo ảnh thì không nắm bắt được.  Tương tự như vậy, chúng ta chẳng thấy chất liệu nào khi nhìn vào những suy nghĩ, cảm xúc và tâm thức của mình.

Rõ ràng, chúng giống như những thực thể vô hình, trống rỗng, phù du tựa như những bóng ma ám ảnh chúng ta và dĩ nhiên chúng ta phải phiền muộn khổ sở vì việc bám víu hay chấp thủ các ý nghĩa và cảm xúc đó. Vì thế, chúng ta phải buông bỏ những ảo tưởng đã hành hạ mình không để ta được bình an vui sướng, thảnh thơi trong tâm hồn, hòa mình vào những khía cạnh bao dung thánh thiện và thiêng liêng.

Sự thiêng liêng hoàn toàn không phải là một hệ thống tín ngưỡng nào cả. Đây là một chân lý muôn đời, là một phần của cuộc sống. Nó luôn luôn hiện diện giống như đám mây trên trời, như cây cối mọc ở núi non. Cuộc đời rồi có những bình minh trời hồng, những vệt nắng chiều tà, có ngày trời xanh mây trắng và những đêm thiếu ánh sao.

Phải tỉnh thức để thấy mọi sự việc đang xảy ra theo sự vận hành, đến đi theo tự nhiên và như nó đang là và đi theo luật nhân quả đúng như bản chất của nó. Tuệ giác sẽ làm phát sinh trong ta một tình thương lớn rộng vị tha, dù ta đang đắm chìm trong ảo tưởng hay trong một hoàn cảnh cùng cực bi đát. Sự an lạc viên mãn sẽ kéo dài được khi chúng ta thoát khỏi sự mù quáng của tâm trí và những cảm xúc xung đột đang bủa vây quanh mình.

Lặng ngồi nghe nước chảy xuôi

Nghe như phế tích dập vùi ngàn thu.

                                     (Hoài Khanh)

*

*        *

Trong mọi thời đại và nhất là thời đại ngày nay với nhiều thành tựu thần kỳ của khoa học kỹ thuật, hầu hết các nền văn hóa, con người thường xuyên bị ám ảnh bởi diện mạo, ngoại hình và kích thước nguồn lực vật chất. Kết quả là chúng ta để cho bình an và hạnh phúc của mình lệ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài. Đã như thế thì cái “con người thực” đã bị quên đi và chúng ta chỉ biết sống với danh vọng, sự nghiệp, quyền lực và tiền tài cùng với tiện nghi vật chất phong phú, dẫn đến tình trạng hiện có lắm kẻ có tâm hồn rách nát, hoang vu, tàn phế bi  thảm đáng thương. Chúng ta hãy dừng lại, thôi mãi miết bôn ba gió bụi như khách lãng đảng phong trần, cứ mỗi ngày mỗi xa cách cái “cố quận” hàng vạn dặm đường, mà phải trở về với quê hương cũ, với bản lai chân diện mục nguyên sơ, mà ở đấy mọi ưu phiền khổ ải không có chỗ dung thân như Vua Trần Thái Tông ngày xưa đã dạy như thế này:

Vĩnh vi lãng đảng phong trần khách

Nhật viễn gia hương vạn lý trình.

                                 Trần Thái Tông

CON ĐƯỜNG KHÔNG LỐI

CON ĐƯỜNG KHÔNG LỐI

Lê Hữu Dũng 7.2019

                                                             (tích hợp gửi anh Đặng công Hanh)

 Đường chạy vòng quanh một bờ tiều tụy

Một bờ cỏ non một bờ mộng mị …

…. Địa đàng còn vương dấu chân bước … quên

                                                                           (Trịnh công Sơn)

   * Những con đường triết học và tôn giáo

  1. Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ (Khổng tử. Luận ngữ)

Luận:  Khổng tử dạy đệ tử tu thân đạt Thánh,  tự  chuyển  hoá thành Ngụy Quân tử  tu … rượu  tới  bến, tu  tới hết …biển đất của thiên hạ.

  1. Vô vi nhi vô bất trị (Lão tử. Đạo Đức Kinh)

Luận: Lão tử cỡi trâu an nhiên đi về Huyền Tẫn, nhưng lũ đệ tử biến chất lại biến “vô vi” (thuận theo tự nhiên) thành lười lao động, lại giỏi tài bấm độn, xủ quẻ, bói toán … chém gió, biến chất  thành Đạo sĩ  bụng  bự lưu manh dân túy!

  1. Bát chánh đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,  chánh    mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định) là con đường dẫn đến giác ngộ (Kinh Phật )

Luận: Quy trình nghiêm quá nên mấy hoà thượng “Thích chánh đạo” tự diễn biến thành  “Thích…xiêu đời” : Thích cúng sao, Thích thỉnh vong,  Thích cướp ấn, Thích côn đồ, Thích kinh doanh …, Thích nhậu … chay, Thích đủ thứ….

  1. Đại nhảy vọt qua chủ nghĩa tư bản giẫy chết , bằng bạo lực cách mạng đi tắt   đón đầu tiến thẳng lên chủ nghĩa cộng sản ưu việt làm theo năng lực hưởng   theo nhu cầu (Mao Trạch Đông. Hồng bảo thư)

Luận: Lão Phù thủy Đen và lũ âm binh Vệ binh Đỏ có thể nhốt những giáo điều      đen trong sách đỏ, nhưng không thể nhốt mây hồng trong bất cứ hộp nào!

  1. Chúa đã chết rồi! Con người cần phải được vượt thoát thành … Siêu nhân                                                                                                     (Nietzsche)

Luận:  Siêu thật!  Đại ca Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hỉroshima và     Nagasaki:  Siêu  nhân  Hitler và chủng tộc thượng đẳng Đức đồng loạt  siêu …     thăng trong bụi  phóng xạ …

  1. Chân lí là đường không lối vào (Krishnamurti. Tự do đầu tiên và cuối cùng)

Luận:  Điều này đúng trong  “chân đế ” ( chẳng hạn tính “nhoè”,  bất định xứ trong thê giới vi mô), nhưng đời sống  là “Tục đế ” vĩ mô, nói chung mọi thứ không “nhòe” kiểu lượng tử.

  1. Bất kỳ tôn giáo nào mà coi cuộc sống vô nghĩa và đầy đau khổ, chỉ biết dạy cách hận thù cuộc sống, đều không phải là một tôn giáo thực sự. Tôn giáo là một nghệ thuật dạy cách làm thế nào để tận hưởng cuộc sống (Osho )

Luận: thiền không phải là chỉ là ngồi im hoặc tụng niệm hướng đến cõi chết mà phải học vỡ lòng từ Thiền Động (dynamic meditation)  nhảy múa giữa Địa Đàng ….trước khi nhập định

  1. Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáotoàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh,   giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả  tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản  của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể  đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó”. (Einstein)

 * Con  đường không lối

Đạo khả Đạo phi thường Đạo , Danh khả Danh phi thường Danh  (Lão Tử)

Đạo con đường không lối (Tao the pathless path) (Liệt tử)

Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm  (kinh Kim Cương)

Nên  không trụ chỗ nào hết,  thì cái tâm ấy (tâm giác ngộ) mới xuất hiện

Tới một ngôi chùa to lớn kiểu Thiên an môn  ngồi  ngoài cổng chùa, không vô chùa mà vô … tư cười ngó trời xanh mây trắng thong dong,hiu hiu lá vờn trong gió, như nhiên hoa cười trong nắng, dõi theo đàn bướm, bầy ong say sưa hút mật, thấy con tắc kè hoa mai chui từ bọng cây ra hồn nhiên phiêu phiêu phơi nắng, nghe ríu rít tiếng chim pháp thoại, nhìn lá rơi khẽ khàng vô ngôn:

Ta đi còn gửi đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù 

(Bùi Giáng)

Thấy mấy em chân dài … hậu hiện đại gối rách lòi rún, vào chùa nhét tiền vào tay Phật rồi chụp ảnh gái nghèo tự sướng bên tượng Phật.

Tự  nhủ: hết cổ điển “đường trong làng hoa dại với mùi rơm” , đến hiện đại  “đường cao tốc bê tông hóa” thì phải ắt đến hậu hiện đại “te tua xơ mướp”, đến khi không còn chi để te tua nữa thì  hiện ra cái bổn lai diện mục.  It would just be!

***Grothendieck:  từ Viện sĩ hàn lâm đến Tu sĩ … Hippie

Lê Hữu Dũng 7.2019

THƯ NGỎ

Thưa các bạn!

Hai tập kỷ yếu “TRƯỜNG XƯA 1 & 2” đã được phát hành – Nó đã đến và đi theo năm tháng, cơ hồ như mang theo những hoài niệm mông lung về một quá khứ huyền thoại hoang sơ, vừa thoáng qua trong khoảnh khắc, nhưng hồn nhiên và tinh khiết thuở học trò mà sự sống được nuôi dưỡng và được lớn lên trong những chuyển động hồn nhiên như vậy. Sự hồn nhiên biểu hiện qua hình thái và phong cách sống. Chúng ta không đi tìm ý nghĩa của đời sống để phát hiện giá trị chân thực mà chỉ cốt tìm cái hương vị của nó. Nói cách khác, cái hương vị đó chính là dưỡng chất cho sự tồn tại của mình.

Tuổi học trò thường được nhắc nhở và dạy dỗ rằng cần phải học hỏi để sống cho đáng sống. “Làm trai cho đáng nên trai/Xuống đông đông tạnh lên đoài đoài tan”. Phải chăng, ta đuổi bắt ảo ảnh để tìm ảnh thực của chính mình?

Thế nhưng, bóng thời gian đi qua, mấy ai không đầu bạc. Con nước trôi xuôi cho nên bến bờ cô độc. Thời gian hóa thân thành dòng lịch sử cuồng cuộn sóng. Rồi anh bước đi, tôi bước đi, chúng ta bước đi, từ giã nơi này về vô định, như hạt cát xa mờ để rồi với những ảo ảnh chập chờn, nghe đâu đó tiếng vọng của quá khứ vô tri đã một thời ám ảnh.

Mòn con mắt sầu đưa tử cổ độ

Bụi thu mờ ai phủi với hai tay.

(BG)

Đã qua đi bao năm biền biệt, nhưng vẫn thấy còn phảng phất một nỗi ngậm ngùi hoài vọng. Bụi thu mờ và bụi thu bay dưới trời mùa thu cao ngất tạnh. Tình vương vấn như tơ trời, triền miên và thắm thiết, đơn sơ như cõi mộng. Trong cõi mộng đó, từ tâm tình đến cuộc tình, từ cuộc tình đến cuộc chơi, từ cuộc chơi đến cuộc hẹn, rồi bổng chốc hiện ra một phương trời viễn mộng xa xôi …. Ta hóa thân lữ khách thấy mình bao giờ cũng bương bãi ra đi, đi mãi tưởng chừng không có bến bờ đỗ lại.

“Sáu mươi năm ấy vẫn chưa nhạt nhòa

Trường xưa phượng vỹ ra hoa

Rưng rưng lệ đỏ, người xa… xa người.

(Hồ Cư – Trường xưa 2)

Cuộc tình chia phôi từ độ đó và vĩnh viễn là một sợi tơ trời trong trí nhớ, chỉ tồn tại trong thế giới hoài niệm. Bên này là những dòng tuế nguyệt cứ mãi trôi đi và bên kia là một chân trời đồng vọng vắng bóng kẻ tri âm. Bởi thế nên:

“Tôi về tìm gặp bóng tôi

Bướm vàng thơ thẩn, bồi hồi ngày xưa…”

(Hồ Cư – Trường xưa 2)

Về đâu, trong cõi nhân gian? Tuổi thanh xuân đã mất hay quá khứ như bóng chim tăm cá, và hiện tại bồng bềnh, còn tương lai hư ảo. Thế giới vẫn hiện thực ở đó trong ngôn ngữ và cả trong môi trường sống quay cuồng náo nhiệt, đã không lấp đầy nỗi trống trải mênh mông trong lòng người học trò năm xưa mà tâm hồn đã bị gọt đẻo biến dạng, qua nhiều khúc quanh phố thị và cảnh đời đong đưa trên vực thẳm tồn sinh. Bỗng dưng, trong khoảnh khắc chìm vào sự im lặng của thế giới vô ngôn, và cái gì đọng lại trong thế giới ấy?

“Tóc đã bạc màu

Mùa phượng hồng em còn nhớ mãi

Nhớ thuở học trò, nhớ anh

Và nhớ cả mái trường xưa”

(Hoài Hương  – Trường xưa 2)

Thưa các bạn!

Trường xưa, có thể hình tượng như một ngôi nhà của hoài niệm để chúng ta xúm xít quanh nhau, ngồi lại: “thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn”. Hẳn là đêm ngắn, tình dài với tâm sự tràn giang đại hải những hoài vọng tuổi thanh xuân về tình yêu, sự nghiệp và những ưu tư khắc khoải về lẽ sống nhân sinh qua chiêm nghiệm những điều kỳ diệu trong sự vận hành của sự sống. Bên cạnh đó là tấm lòng xót xa, thương cảm nỗi khốn khổ của bè bạn trước cái định mệnh lưu đày mà quê hương là nơi “đất trích”, ngậm ngùi trong thế giới u minh đầy dâu bể.

Trên tất cả, thời gian là một định mệnh nghiệt ngã nhất. Khi tuổi già đến đồng nghĩa với thời gian đã lấy đi tuổi thanh xuân, lúc đó tình yêu không còn là sự rung động tế nhị, xao xuyến trước các đóa hồng khoe hương sắc lộng lẫy trong nắng vàng mà là một sa mạc hoang vu dưới ánh sáng yếu ớt của con trăng hạ huyền. Ta bước đi giữa cuộc đời còn sót lại đôi khi lạc lõng mơ hồ như người đi trong giấc mộng và hoài niệm là một thế giới được nâng lên từ những vết thương lòng với những nghịch lý ám ảnh và những chứng tích của sự sụp đổ hoang tàn và vết thương chỉ khép lại cùng với chung cuộc lịch sử một đời người. Phải chăng các bạn?

Đây là những thao thức và tâm sự của TRƯỜNG XƯA 3, dự kiến hoàn thành vào giữa năm 2020 như một nỗ lực quà tặng tinh thần cho nhau.

Thân ái chào các bạn và rất mong sự góp sức của các bạn gần xa trong chờ đợi.

Xin chờ đợi!

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 7 năm 2019

Trường Xưa 3

ĐỜI SỐNG TÂM LINH TRONG QUAN NIỆM PHẬT GIÁO

Đặng Công Hanh

 “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt

Rọi suốt trăm năm một cõi đi về”

(Trịnh Công Sơn)

 ♦ Cuộc Hành trình Giác Ngộ – Tấm Gương sáng vĩ đại

Thái tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn và mẹ là Ma-da sau khi sinh ra được 7 ngày thì mẹ mất, Ngài sống với người dì là Ma-ha-bà-nà-bà-đề. Vua Cha Tịnh Phạn muốn con mình nối dõi, nên tìm cách dạy dỗ cho con, nhất là không để tiếp cận với cảnh khổ của con người. Vì vậy Ngài được sống cuộc đời vương giả của thời đại lúc bấy giờ. Tuy thế, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, Ngài khởi tâm từ biệt hoàng cung, sớm thoát ly thế tục, bằng con đường xuất gia. Thái tử nhất định rời bỏ cung điện đền đài để đi tìm chân lý, một cái gì thật sự an tịnh và trường cửu tối thượng.

Sau khi xuất gia đi tìm chân lý tối thượng, Ngài phát triển trước tiên về phẩm hạnh giới luật. thiền định dưới sự hướng dẫn của hai vị đạo sư nổi tiếng là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta trong sáu năm. Ngài phát hiện ra rằng chỉ với thiền định thuần túy thôi không thể chấm dứt vĩnh viễn được khổ đau và chính Ngài đã đưa vào một chiều hướng mới là thiền định có mục đích trí tuệ. Với sự khám phá này, Ngài đã đạt đến nhất tâm, hướng tâm vào sự hiểu biết bản chất của sự vật và thấu hiểu chân lý. Sự giác ngộ của Ngài chính là kết quả của sự phối hợp thiền địnhtrí tuệ.

Thời đại lúc bấy giờ, theo truyền thống tư duy của Bà-la môn giáo, thì các nhà thu khổ hạnh đã tu tập phương pháp luyện tâm là những người không lập gia đình, thường lang thang, ăn mặc quần áo rất sơ sài, không ở một nơi nào nhất định. Họ thực hành các pháp tu khổ hạnh ép xác hết sức ghê gớm nhằm chống lại những ham muốn của mình. Đối với Ngài, khía cạnh trí tuệ điển hình thường thể hiện trong đời sống. Một trong những số đó là quan điểm Trung đạo, tránh cả hai cực đoan là sự tham đắm những dục lạc giác quan và sự hành hạ thân xác quá đáng.

♦ Giờ phút Thành Đạo

Trong buổi sáng, trước ngày Thành Đạo, Ngài nhận bát sữa gạo do bà Sujãtã dâng lên. Sau khi thọ xong bữa ăn, Ngài bắt đầu thực hành thiền quán dưới gốc cây Bồ Đề. Vừa lúc bình minh, ngày thứ 49, Ngài chứng đắc Quả Vô Thượng Chánh Giác, và trở thành vị Phật lúc ba mươi lăm tuổi bằng những nỗ lực phi thường. Ngài đọc lên một bài kệ, hoan hỷ mô tả sự chiến thắng tinh thần vô cùng vẻ vang rực rỡ:

“…Này hỡi người thợ làm nhà Như Lai đã tìm được ngươi

Từ đây người không còn cất nhà cho Như Lai nữa

Tất cả sườn nhà đều gãy

Cây đòn đông của người dựng lên cũng bị phá tan

Như Lai đã chứng nghiệm

Quả Vô Sanh Bất Diệt

Và Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục”.

Như Lai chính là Đức Phật, người thợ làm nhà là ái dục, sự tự tạo ẩn sâu kín bên trong Ngài, một thành phần luôn luôn hiện hữu bên trong mọi người. Cái gì được tạo ra thì có thể bị tận diệt. Cái sườn nhà tự tạo chính là các ô nhiễm như tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, tà kiến, phóng dật, hành vi bất thiện… Cây đòn đông chống đỡ cho sườn nhà là vô minh, căn nguyên của mọi dục vọng. Sự phá vỡ cây đòn đông vô minh làm bằng chất liệu trí tuệ.

Khi toàn bộ vật liệu xây dựng không cần thiết, người làm thợ trở nên vô dụng, lúc đó mọi sự thể đều bị loại bỏ và chỉ còn lại cái tâm đã đạt đến trạng thái vô vi, vô sinh, bất diệt, Niết Bàn.

Với ý chí sắt đá, với trí tuệ siêu đẳng, lòng bi mẫn vô biên, đức vị tha vô lượng, sự truy tìm chân lý tối hậu của Ngài đã đưa đến sự ra đời của Phật giáo. Và từ đây ta nhận thức được rằng Phật giáo có nghĩa là “Giáo huấn của bậc Giác ngộ”. Mỗi vị Phật là một con người đã Giác ngộ, một con người đã nhìn thấy sự vật “như nó là“.  Phật giáo xuất hiện trên nền tảng quán sát thực tại và thấu hiểu thực tại như vậy nên là một tôn giáo trí tuệ, có mục đích giúp cho thế nhân loại trừ khổ đau và các nguyên nhân tạo nên khổ đau trong một chiều kích thật sâu rộng. Đức Phật không phải là Thiên Chúa. Đức Phật mô tả mình chỉ đơn giản là người hướng dẫn. Ngài chỉ cho chúng ta con đường và mỗi người trong chúng ta phải tự đi qua để giải phóng bản thân và người khác thoát khỏi khổ đau và đạt được hạnh phúc.

Vậy nhìn từ góc độ của Đạo Phật nguyên chất, mọi hình thức tôn thờ hướng vào các vật thể thiêng liêng bằng lễ lạc, nghi thức cúng bái hay cầu khẩn đều không phải là tính cách của Phật giáo. Có lần Đức Phật nói: “Nếu một người nào đó có thể loại được khổ đau của mình bằng cách cúng dường, bằng sự tôn kính và cầu nguyện, thì sẽ chẳng còn ai trong thế gian này phải chịu gánh khổ đau cả, bởi vì có ai mà lại chẳng biết bày tỏ sự tôn kính và cầu nguyện. Dù cho họ có thật ngoan ngoãn, biết tôn kính và thực thi nghi lễ đều đặn, thế nhưng trên thực tế thì họ vẫn cứ phải chịu khổ đau. Vì thé nên hết sức hiển nhiên, những thứ ấy nhất  định không phải là giải pháp hữu hiện giúp họ tìm thấy sự giải thoát khỏi những khổ đau của chính họ.”. (Giáo sư Buddhadasa, Đại học Queenland – Hoang Phong dịch).

Trên đại thể mà nói, trong kho tàng giáo lý đồ sộ, ngoài những giáo lý có tính cách của nền đạo đức thực tiễn, được lý giải bằng ngôn ngữ có tính thời đại phổ biến, vẫn còn đó cả phần lớn giáo lý thuộc thế giới bàn bạc cái không khí “huyền chi hựu huyền“, như thể một kính vạn hoa phản chiếu muôn vàn ảnh tượng như thực như hư, như có như không, mà con người với trí năng thông thường, giới hạn của mình không thể thành đạt sự kiến giải.

Chính vì thế, với tính cách uyên áo thăm thẳm mà giáo lý của Ngài tác động gợi nhiều cảm ứng cho các tầng lớp đại chúng lẫn hàng ngũ tri thức. Ta thử trích một số ý kiến của các học giả nổi tiếng đương đại trên thế giới đã nói:

“…Ngài là người đã dựng nên một hệ thống tôn giáo vô cùng cao thâm huyền diệu. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh của người thiện trí. Bởi vì, đứng về phương diện trí thức, chắc chắn Ngài là một trong những vĩ nhân cao thượng nhất của lịch sử…” (Tiến sỹ Sri Radh krishman – Phạm Kim Khánh dịch)

─ “… Nơi Đức Phật ta thấy rõ ràng là một con người giản dị có tâm đạo nhiệt thành, một mình tự lực phát huy ánh sáng tươi đẹp, một nhân vật sống, một con người như mọi người chứ không phải là một nhân vật thần thoại ẩn hiện trong nhiều truyền thuyết hoang đường… Đức Phật dạy rằng tất cả những gian lao sầu khổ và bất hạnh trong đời đều do lòng ích kỷ sinh ra. Trước khi có thể trở nên vắng lặng, con người cần phải ngừng sống cho giác quan mình. Rồi từ đó, vượt lên trên tất cả mọi người, Ngài sống cuộc đời siêu nhiên… Đứng với tầm quan trọng của con người trong sự phục vụ, Ngài tỏ ra sáng suốt hơn, và đối với vấn đề trường tồn bất hoại của kiếp nhân sinh, Ngài ít lúng túng hơn trong biện thuyết mập mờ…” (Giáo sư  HG. Weel: Three Greatest Men in History – Phạm Kim Khánh dịch)…

─ “… Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thần thánh nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không thể xâm nhập vào đời sống của Ngài được”. (Giáo sư Eliot – Pháp Hiền dịch).

Từ lúc Thành Đạo, năm ấy Ngài đúng ba lăm tuổi, đến khi Đại Niết Bàn  lúc tám mươi tuổi. Trong suốt thời gian bốn mươi lăm năm, Đức Phật không ngừng phục vụ nhân loại bằng giáo pháp và bằng tấm gương chính đời sống Ngài.

Giáo pháp của Ngài là những lời dạy có nội dung bắt nguồn từ Chứng Pháp mà Chứng pháp là sự nội chứng sâu thẳm, thấu suốt đến tận rốt ráo vạn pháp (hiện tượng – sự vật), vượt quá so đo, tính toán của trí thế gian. Giáo pháp chỉ dạy những sự thật của cuộc sống an lạc, hạnh phúc, sự thật của phẩm giá cao thượng nơi con người, sự thật đó có sức mạnh chuyển hóa sự ham mê đời sống vật chất, tình tiền, nhục dục…

Vì Chứng pháp quá sâu thẳm, quá lớn rộng nên khi diễn đạt Đức Phật thường dùng các pháp dụ, tức là các ví dụ phù hợp với hoàn cảnh, với thời đại. Ngài là bậc Vô thượng giác, là trí tuệ siêu việt trần thế nên sự giảng dạy đạt đến mức toàn hảo, có công năng làm sống dậy bản chất cao thượng của tâm hồn, là phương thuốc trị bệnh tâm linh cho con người, một căn bệnh trầm kha do tâm lý khao khát ái dục, đã ăn sâu qua vô số đời sống tạo nên một hấp lực mang nặng chiều hướng bản năng nguyên thủy.

Ngài đi từ những kinh thành lộng lẫy đến những làng mạc xa xôi, ròng rã suốt 45 năm không mệt mỏi. Với hành trang gồm một bình bát, khất thực, với ba tấm y để che thân, đôi chân tần, đầu không nón suốt bốn mùa mưa nắng. Ngài thuyết pháp bằng đủ mọi phương tiện, đều không ngoài mục đích cứu độ chúng sinh  với lòng từ bi vô hạn.

Đức Phật Nhập Diệt năm 543 trước Tây Lịch vào ngày trăng tròn tháng Vesak, với lời di huấn tối hậu, “Hãy nghe đây, này các đệ tử, Như Lai khuyên các con. Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tận lực liên tục chuyên cần”. Đến bây giờ đã gần 26 thế kỷ trôi đi, Đạo pháp của Ngài vẫn cứ rực rỡ chiếu soi như đôi vầng nhật nguyệt.

♦ Xác Tín và Xác Thực

Sau khi Đức Phật Đại Niết Bàn, các luận sư Phật học lỗi lạc như ngài Vô Trước, ngài Mã Minh, ngài Long Thọ… đã phân định Pháp giới để giảng giải theo hai cảnh giới hay hai thực tại là chân thật giới và hiện tượng giới.

+ Chân thật giới hay thế giới tuyệt đối gồm các pháp “vô vi”mang tính cách siêu hình không thể nhận biết qua giác quan bằng khả năng tư duy biện giải mà chỉ qua nhận thức trực giác do công phu thiền định cấp độ cao, tạm gọi là trí vô phân biệt, không thể nghĩ bàn, và chỉ còn là sự im lặng.

Trung Quán Tông cho rằng thế giới tuyệt đối là Tánh Không. Khái niệm về Tánh Không có hai phạm vi khác nhau: một là mang tính triết học và khoa học nói lên bản chất tất yếu của hiện thực; hai là tính thực dụng xem như một phương tiện hiện hữu đến hóa giải mọi sự bám víu, dính mắc mang lại những rối loạn và khổ đau. Tánh Không, không có nghĩa là hư vô hay sự trống rỗng của không gian. Phật giáo dạy rằng, bản chất tối hậu của thế giới sự vật hiện tượng là Tánh Không, là thiếu vắng “sự tồn tại tự thân”. Tánh Không xuất phát từ ý tưởng sự tương liên của các hiện tượng, rằng mỗi sự vật hiện tượng không thể tồn tại tự thân, hay là nguyên nhân của chính nó hoặc một hiện tượng chỉ có thể biểu hiện được nếu nó được liên kết với các hiện tượng khác.

Một thực tại đều là kết quả hội tụ của vô hạn, các điều kiện và nguyên nhân không ngừng thay đổi. Tự thân của chúng không là gì cả. Sở dĩ chúng có được bản chất của mình là nhờ sự phụ thuộc lẫn nhau và phải được hiểu trên tính tổng thể. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tóm tắt mối quan hệ giữa khái niệm tương liên và Tánh Không như sau:

“Hiểu sự tương liên, sẽ hiểu được Tánh Không

Hiểu Tánh Không, sẽ hiểu được sự tương liên

Đó là Trung Đạo

Thoát khỏi vực thẳm khủng khiếp của chủ nghĩa hư vô và hiện thực”

Rõ ràng Phật giáo không ủng hộ chủ nghĩa hư vô, hư vô có nghĩa mọi thứ đều không tồn tại và chủ nghĩa hiện thực vật chất với ý nghĩa mọi thứ đều tồn tại và tồn tại nội tại một cách riêng rẽ độc lập. Tri thức Phật giáo giữ một quan điểm trung gian 2 cực đoan nói trên. Rơi vào ý niệm là một cực đoan, rơi vào ý niệm không là một cực đoan khác. Đức Phật dạy giáo lý Trung Đạo để vượt thoát có và không. Ngài Long Thọ, một luận sư Phật học nổi tiếng tuyên thuyết một cách ngắn gọn trong một bài tụng rằng:

“Các pháp (hiện tượng sự vật) do Duyên khởi, nên ta nói nó là Không, là Giả danh, và cũng chính là Trung Đạo”.

Đối với Phật giáo, mô tả thế giới hiện tượng là một mạng lưới duyên sinh vĩ đại, trong đó tất cả hiện tượng đều là tương đối, quan hệ chằng chịt với nhau, nương tựa nhau mà tồn tại. Bởi vì bản chất cuối cùng của hiện tượng sự vật không có sự tồn tại độc lập và vĩnh hằng, thì các hiện tượng mới xảy ra. Thế giới hiện tượng có thể biểu hiện vô số cách bởi vì bản chất cuối cùng của nó là Tánh Không.

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận, đồng thời là  nhà Vật lý Thiên văn nổi tiếng tại Mỹ, trong tác phẩm lớn Nguồn Gốc, ông có viết đại ý rằng: Chúng ta đều là các hạt bụi của các ngôi sao, chúng ta đều chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ như các con linh dương và những đóa hoa hồng. Chúng ta được kết nối với nhau qua không gian và thời gian và chỉ điều này có thể dẫn tới một ý thức sâu sắc về khái niệm sự tương liên.

Thông thường, biến một tri thức lý thuyết, thông qua trí não phân tích, có nguy cơ chỉ mang lại hiệu ứng ảo. Để vượt qua hiệu ứng  ảo đó, cần phải nỗ lực tinh thần đạt được sự chuyển biến sâu sắc trong cách nhận thức, cần phải đồng hóa được những hàm ý của sự phát hiện này bằng lòng trắc ẩn, không thể cưỡng nổi với mọi sinh vật. Chỉ có lòng trắc ẩn mới làm cho con người thay đổi sự tồn tại của mình tận gốc rễ, biểu hiện qua hành vi suy tính, lời nói và việc làm. Đức Phật nêu lên Tánh Không như một thể dạng tối thượng của tâm thức và chính Ngài đã xác nhận mình luôn luôn thường trú trong Tánh Không.

Song song với sự hình thành Phật giáo Đại Thừa và nhất là xuất hiện Trung Quán Luận của Ngài Long Thọ, Tánh Không được mở rộng liên quan đến mọi hiện tượng của vũ trụ. Như là một khái niệm siêu hình mang tính triết học với biện chứng trừu tượng và được đặt vào vị trí trung tâm của Đạo pháp. Tánh Không trở thành cốt lõi của Đạo Phật và việc tu tập phải hướng vào Tánh Không như một phương tiện hữu hiệu nhất.

Trên phương diện tu tập, người học Phật đã không ngừng kinh ngạc trước các khái niệm mà Đức Phật đã khám phá ra cách đây ngót 26 thế kỷ, nên đã đặt sự xác tín nơi những gì mà người đi trước đã trải nghiệm truyền đạt lại, trong đó chủ yếu là những lời dạy của chư Phật, chư Bồ Tát.

Đức Phật có lần dạy: “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”. Vì thế cho nên từ lúc bước chân vào học đạo, chúng ta phải vận dụng lý trí để hiểu rõ lời Phật dạy, tiếp đó suy nghiệm xem lời dạy có phải là chân lý (sự thật) không. Và sau rốt lại, khi sự xác tín đã vững vàng, chúng ta nỗ lực hành trì để một ngày nào đó chúng ta chứng thực được niềm xác tín đó. Đây quả một sự thách đố cho chính bản thân những ai có tấm lòng tu học trên mỗi chặng đường tu chứng.

Rõ ràng, niềm xác tín của những thế hệ học Phật, tu Phật xưa nay vào những gì mà Đức Phật giảng dạy đã đem đến sự thành tựu lớn lao hơn nhiều so với những gì mà ta chấp là xác thực đem lại cho đời sống hiện thực.

Một ví dụ rất gần gũi có bản chất khoa học như tin vào Luật Nhân – Quả trên hai cấp độ:

– Ở cấp độ thô thiển: bây giờ ăn mặn nhiều thì lát sau sẽ thấy khát nước.

– Ở dạng sâu sắc siêu hình hơn, luật Nhân – Quả được thể hiện trong mối quan hệ giữa ba thời quá khứ – hiện tại – vị lai; giữa thế hệ trước và thế hệ sau: rau nào thì sâu nấy; con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh.

Có thể khái quát rằng cái gì “đang là” thế này thì phải tiến tới nó “sẽ là” thế ấy, nếu không có sự tác động nội tại hay ngoại tại nào tham gia.  Một tiến trình như thế sẽ hé lộ cho ta thấy: cái “sẽ là” ở trong cái “đang là” , và cái “đang là” lại có từ cái “đã là”. Mối quan hệ biểu trưng hình ảnh của Nghiệp và Chuyển nghiệp trong nhà Phật.

+ Hiện tượng giới hay thế giới tương đối bao hàm sự vật hiện tượng hữu hình hay vô hình mà giác quan con người cảm nhận được như tinh thần, ý chí, tình cảm… có thể khảo sát được qua phương pháp duy nghiêm. Đạo Phật gọi là pháp “hữu vi” biểu thị hiện tượng hình thành do nhân duyên và cũng là đối tượng của khoa học, trung tâm của ngành vật lý. Vì thế nên khoa học có cái cám dỗ mãnh liệt, cái cám dỗ của chân lý khách quan mà lý trí con người có thể vươn tới được. Thực tế cho thấy, khoa học đã đạt nhiều thành quả to lớn trong hơn thế kỷ này với sự trợ giúp của công nghệ. Đồng thời bộ mặt của nhân loại cũng thay đổi một cách nhanh chóng trong sự thụ hưởng những tiện tích thông qua các tiến bộ kỹ thuật, xây dựng được xã hội văn minh.

Tuy vậy, con người cần bình tĩnh lại để thấy rằng còn biết bao nhiêu câu hỏi cuộc sống mà vẫn chưa có lời giải đáp: Ngẫu nhiên, hỗn độn là cái gì? Làm thế nào mà trật tự lại có thể xảy ra trong một vũ trụ tuôn theo luật entropy tăng? Vấn đề “đa thế giới” của lý thuyết “Dây” hay “siêu màng“? Đâu là thực tại nhiều chiều (ít nhất là 10 chiều, có một phần của nó biểu hiện ra 4 chiều không – thời gian)?… Và các chân lý khách quan đó còn nhắc nhở con người giảm bớt lòng tự hào và loại trừ đi những ảo tưởng về khả năng tính của lý trí mà từ lâu đã nặng nợ với tất cả định luận, với những pháp suy luận duy lý và quy giản hay nói theo Phật học là còn bị ràng buộc trong tính chất chiêu cảm của Nghiệp lực, vì nó chỉ là sản phẩm của tâm trí.

♦ Sự hòa hợp giữa Tương Đối và Tuyệt đối

Đức Phật nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”; “Sắc bất dị không“; Tương đối – Tuyệt đối; Ngộ – Mê; đều thể hiện tính cách hòa hợp của hai cảnh giới đó. Hai cảnh giới này chẳng là một nhưng cũng không phải là hai.

Một hình mẫu rất gần với sự hòa hợp giữa các tương đối và cái tuyệt đối của nhà vật lý lượng tử đã quá cố David Bohm với ý tưởng thể hiện về cái “trật tự ẩn” và “trật tự hiện” theo thuật ngữ của ông. Ông là nhà vật lý nổi tiếng làm việc với S.Hawking, R-Penrose nhưng lại có cái nhìn gần với Đạo học Phương Đông.

Ông xây dựng thí nghiệm thế này: Có 2 ống hình trụ đáy kín, cùng trục quay. Ống ngoài cố định, ổng trong nhỏ hơn quay được. Đổ đầy glycerin vào phần giữa 2 ống. Nhỏ 1 giọt mực vào glycerin, rồi quay ống hình trụ trong. Giọt mực vẽ nên một đường cong mờ dần rồi mất hẳn. Lúc bấy giờ, mỗi điểm trong dung dịch trông thấy đồng nhất. Ông gọi đó là trật tự ẩn. Sau đó, quay ống bên trong theo chiều ngược với tốc độ thích hợp, giọt mực bất ngờ xuất hiện lại từ hư không, ông gọi đó là trật tự hiện.

Tiếp theo, cho thêm một giọt thứ 2 ở gần giọt mực thứ nhất, rồi quay, giọt thứ 2 và giọt thứ nhất quấn vào nhau và cứ như thế cho đến giọt thứ n. Bây giờ, quay ngược lại với tốc độ hợp lý, giọt thứ nhất tái xuất hiện và lần lượt tiếp thu bởi giọt thứ 2, 3… thứ n. Tất cả chúng đều ở đó.

Ông nói rằng mọi sự kiện quá khứ, hiện tại, vị lai ở ngay đây, ngay lúc này, nhưng chúng hiện ra tùy vào điều kiện theo cách nào đó. Một số sự kiện trở thành hiện thực, hoặc xảy ra đến, một số thì không. Nhưng về cơ bản chúng đều ở đó dù chúng ta không thực sự thấy chúng. Đó cũng có nghĩa là sự hòa hợp giữa thế giới tương đối và thế giới tuyệt đối. Và các biểu hiện trong thế giới hàng ngày có vẻ bề ngoài tách bạch chỉ là biểu hiện có điều kiện thích hợp của thế giới tuyệt đối. Chân không mà Diệu hữu, Không thức thị Sắc, Sắc tức thị Không (Bát Nhã Tâm Kinh). Hai thế giới này không phải là hai, nhưng chẳng phải là một.

Thật xúc động với thí nghiệm này (theo cảm nghĩ người viết). Một mẫu hình đối chiếu, ở đó Đạo Phật đã không còn xuất hiện như những “tín lý” mà đã xuất hiện dưới những yếu tố “xác thực”  như khoa học. Mò mẫm bước vào những chiều kích sâu thẳm tâm linh, thì trực giác và kinh nghiệm nội tại đóng vai trò hàng đầu trong cách tiếp cận chiêm nghiệm hơn là trí tuệ và lý trí. Phật giáo quan tâm tới bản chất tối hậu của thế giới vật chất không có mục đích tìm hiểu nguyên lý vận hành của nó, mà khi đạt được chân lý (sự thật) tuyệt đối để giải phóng mình khỏi những đau khổ do việc gắn kết sai lầm với thực tại biểu kiến của thế giới bên ngoài và nhờ đó mà đạt được tiến bộ trong sự hoàn thiện bản thân.

♦ Vọng Tâm

Trong thế  giới con người, chủng ta sống tràn ngập trong vọng tưởng và điên đảo. Vọng tưởng là do mê lầm. Do đó, vọng tưởng là bị dính mắc vào sự vật dính mắc vào sự phân chia và cái biết. Chúng ta không thể ở mãi trong cảnh giới tuyệt đối, cái Nhất thể, cái Phật tính, mà cũng không thể cứ dính mắc vào thế giới hiện tượng. Chúng ta phải thấy biết đồng thời cả hai cái tương đối và tuyệt đối và hoạt động tự do trong đồng thời cả hai thế giới đó. Đây là sự giải thoát.

Một câu chuyện Thiền: Trước Thiền, đầu tiên thấy núi là núi, sông là sông. Nghĩa là những gì ta nhận thức được là thế giới hiện tượng, mọi thứ được đặc trưng bởi sự khác biệt. Trong lúc đang hành trì Thiền sâu và nắm bắt được sự hòa hợp trong cuộc sổng thì đột nhiên núi không còn là núi mà sông cũng chẳng còn là núi mà sông cũng chẳng còn riêng sông, chỉ có nhất thể, chỉ có tính duy nhất và lúc này mọi khái niệm phân biệt đều rơi rụng. Khi đã thành tựu Thiền, ta lại thấy núi lại là núi, sông lại là sông như lúc ban đầu, nhưng không còn theo nghĩa tương đối trước khi thực chứng. Điều này nói lên rằng không phải nhận thức là vấn đề, mà sự bám chấp vào nhận thức đó là vấn đề.

Duy Tâm Tạo

Trong các kinh điển đều nói lên khái niệm: Tất cả những gì mà chúng ta quán nhận được, hình dung được đều do tâm thức. Điều này có thể diễn dịch, mỗi khi nhận biết một sự vật hiện tượng nào đó thì ngay lúc đó tâm (ý thức và mạt na thức) đã gán cho sự vật hiện tượng một nhãn hiệu. Chẳng hạn về một lọ cắm hoa hồng. Nhiều người khi đối diện với lọ hoa đã nhào nặn và biến đổi trong tâm thức của từng người, rốt cuộc nó đã trở thành một sản phẩm của chính tâm thức của mỗi người và do đó có thể nói rằng đối tượng lọ hoa không thực sự hiện hữu như chính nó là.

Thông thường khi cảm nhận được các sự vật hiện tượng ở bối cảnh bên ngoài thì sự thu hút của nó sẽ khiến cho tâm thức  bám chặt vào hình tướng nó và ta có cảm giác là sự cảm nhận của mình là xác thực. Trạng thái này có hàm một ý nghĩa là tâm thức đã tương tác và hòa nhập với bối cảnh đó, đây chính là lúc tâm thức  bị lừa đối và nó sẽ dẫn đến sự duy trì bản chất sai lầm. Sự sai lầm này của tâm thức, một phần do ta đặt sự quan trọng quá mức vào thế giới bên ngoài; phần khác là sự chi phối thường xuyên bởi tư duy nuối tiếc quá khứ hay sự chiêu cảm của Nghiệp lực.

Thế cho nên hãy tập trung thường trú trong thể dạng tự nhiên là hội nhập với hiện tại. Phương cách này tỏ ra hiệu quả để thực hiện những kinh nghiệm nuôi dưỡng được trạng thái trong sáng của Tâm. Tỉ như hình ảnh mặt nước,  lúc bị khuấy động sẽ tạo ra sóng và bọt thì không thấy được sự trong suốt của nó. Vậy hãy hòa mình sống với tâm hồn nhiên, chỉ nghĩ đến thời khắc hiện tại và hòa nhập với thể dạng “phi khái niệm“. Ta thử nghe, điệu biến tấu chế tác của tâm:

“… Trên sóng lúa, nét chiều thấp thoáng

Một nét cong xao động tâm hồn

Trời khoáng đãng ngây thơ con diều giấy

Ta thấy mình, chưa dễ đã lớn khôn!…”

(Hồng Thế)

hay là:

“…Đưa người, ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng”

  (Thâm Tâm)

Khái quát rằng các đối tượng thật sự hiện hữu, thế nhưng chúng không hiện hữu đúng với phong cách mà ta tưởng tượng, cảm nhận về chúng. Nói cách khác, các đối tượng không hề mang thực thể nội tại, hay Tánh Không của chính sự hiện hữu là bản thể tối hậu của nó.

Hiểu biết Tánh Không về mặt trí thức chỉ thực sự có ích khi nhìn thấy thế giới này và cả chính mình đều thay đổi khác đi. Thay đổi để gỡ bỏ mọi bám víu vào sự vật hiện tượng dưới dạng hình tướng, để chúng biến đi, trả lại cho ta một bầu không gian trống không, trong sáng và thanh thoát, mở ra bước chân trên con đường dài thực hiện sự Giác Ngộ. Mong ước đạt được sự Giác Ngộ là nền tảng của tỉnh thức, nên việc khởi động nền tảng đó để đạt được mục tiêu mong cầu, chính là Bồ Đề tâm.

Sự hiểu toàn vẹn về Tánh Không sẽ có đủ khả năng loại bỏ được vô minh cơ bản (chấp cái tôi và cái của tôi), giải thoát dần những khổ đau, thấy được sự méo mó của tâm thức do hư vọng, do ích kỷ hẹp hòi.Từ đó Bồ Đề tâm được phát động và giữ vai trò hết sức quan trọng đối với người học Phật bước vào con đường tâm linh một cách quả quyết.

* * *

Kinh Pháp Cú có viết rằng:

“Tâm thức dẫn đầu các hiện tượng, tâm là chủ, tâm tạo tác”.

Rõ ràng, lời dạy của Đức Phật và lời giảng giải của kinh luận cho thấy bên trong mọi sự vật hiện tượng và phía sau sự dẫn đầu của tâm thức và sự tự t ạo dựng ra chính nó phải chăng là một không gian trống rỗng “Ở thể dạng hoàn toàn tinh khiết, vô song và tối thượng không có gì vượt hơn cả” mà chính Đức Phật đã thường trú trong đó.

Chúng ta cảm nhận được phương tiện thiện xảo của sự cụ thể hóa Tánh Không qua dung nhan sắc màu danh ngôn: Phật tính, Chân Như,. Niết Bàn, Pháp Thân, Trí Tuệ Như Lai, Bản Thể, Ánh sáng trong suốt trong Cận Tử Nghiệp… Tất cả đều thể hiện sự tương phản giữa dạng tâm thức giải thoát nhờ an trú trong Tánh Không và tâm thức vô minh ô nhiễm trần tục. Tu tập chính là nỗ lực kiên trì chuyên hóa của tâm thức trong chính chúng ta  mà thôi. 

 =================

Tài liệu tham khảo 

  1. Đại Lai Lạt Ma: Tu Tuệ, Hoang Phong biên dịch, NXB.Hồng Đức, 2013
  2. Bernie Glassman: Vòng tròn bất tận, Nguyễn Quyết Thắng dịch, NXB Hồng Đức, 2014
  3. David Bohm: Tư duy như một hệ thống, Tiết Hưng Thái dịch, NXB Tri Thức, 2011

ĐỢI GIÓ SANG CANH

(Thân tặng bạn Võ Văn Huệ ở Cali)

Thuộc tính con người là ham muốn, thậm chí còn vô hạn, thế nên kỷ niệm nào cũng là kỷ niệm buồn. Thời gian đã cuốn trôi đi buồn vui, yêu giận, với chính mình, với tình đời, loanh quanh trong một kiếp nhân sinh, một đời lãng tử, lênh đênh qua mấy ngọn hải triều, để nghe trong ta một thuở xa xưa, ghi dấu phế hưng của một thời lãng mạn bi hùng.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Ngã cũ lâu đài bóng tịch dương

(Bà Huyện Thanh Quan)

Vẫn âm vang câu hỏi ngàn năm, sống và chết, ai còn ai mất. Bởi những kẻ ra đi không bao giờ trở lại. Bức tranh vân cẩu của thời đại ấy, cõi nhân sinh là gì? Thời đại phải chăng như bóng câu, đến rồi đi, cái còn đọng lại như là tồn tại của bóng mờ quá khứ.

Gió lây lất bốn phương về dồn tụ

Bụi thu mờ ai phủi với hai tay

Bùi Giáng

Năm mươi năm đã đi qua, từ khi tôi biết yêu. Từ khi tôi nhìn thấy ngọn cỏ non gục đầu dưới lớp bụi nặng trĩu ven đường mà bỗng thấy rạo rực với những ảo ảnh chập chờn. Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao và nghe đâu đó có tiếng hát thì thầm:

“Ta đưa em sang sông/ Chiều xưa mưa rơi âm thầm”

Đó là những âm hưởng rung động, chấn động đầu đời. Tôi chẳng hiểu tại sao thế. Quả thật, còn nhiều điều tôi vẫn chưa hiểu. Và lại đi tìm đâu đó hoài niệm về một quá khứ mà mình chưa từng có mặt. Bóng ma của cái quá khứ vô tri xa lạ ấy, đã một thời ám ảnh.

Tuổi học trò với hành trang chỉ là một gói hoài niệm trong bóng đèn dầu hiu hắt vàng vọt hay dưới bóng điện đường trong những chiều lất phất mưa bay.

Rồi khi lớn lên, ta bị ném vào đấu trường để vật lộn với nhân sinh, dường như những ký ức đó đã bị vùi lấp trong lớp bụi mù phố thị, xôn xao tiếng vọng từ hí trường giả dối, tô điểm những giá trị phù hoa không thực chất.

Rốt cuộc, đâu là giá trị nhân sinh. Thế giới này thực hay hư ảo, mang đầy hoài niệm hay ước mơ, thế giới ấy là gì? Tuổi thanh xuân ấy được ghi dấu bằng những vết sẹo trong tâm hồn, bằng những vết cắt sâu vào da thịt tuổi dậy thì đang chớm nở tình yêu rình rập, kín đáo e thẹn và nhức nhối.

Trong nỗi ưu tư khắc khoải về lẽ sống nhân sinh và chiêm nghiệm những biến động trong sự vận hành của thế giới nội tâm, ta cảm nhận được âm vang một sự đồng cảm khi ta nghe thấy được những ẩn khuất sâu xa trong ca từ Nhật Ngân, người nhạc sĩ, cựu học sinh PCT đồng môn đồng khóa 56 – 63, qua hơn 200 ca khúc của ông. Sáng tác đầu tay của anh cùng viết với nhạc sĩ Y Vân năm 1959 là ca khúc “Tôi đưa em sang sông”.

Trong một bài phỏng vấn trên RFA, anh cho biết khung cảnh bản tình ca này là bến đò An Hải bên sông Hàn Đà Nẵng. Một chàng trai, danh phận chưa có, ngậm ngùi chia tay người yêu phải theo lời gia đình đi lấy chồng. Anh buồn với chính mình, với tình đời và tình người, nhạc sĩ dường như trong khoảnh khắc đã tan biến vào một thế giới hoang liêu, như một lãng tử bị ném vào cuộc lữ hành bất định vào xa xăm của quá khứ: “Tôi đưa em sang sông/ Chiều xưa mưa rơi âm thầm ”.

Có thể mưa ở ngoài trời, cũng có thể mưa cả trong lòng như những giọt lệ bi thương của định mệnh nhân sinh, cho tình yêu ngây thơ còn ray rứt bởi hoài niệm, vẫn không mờ nhạt bởi bóng thời gian.

Đà Nẵng lúc bấy giờ đất rộng người thưa nên phố xá có phần hoang vắng. Thế hệ học trò tuổi dậy thì của chúng tôi đã lớn lên trong không gian trơ trụi và thời gian đang tàn lụi dần trong viễn tượng của thị giác, đưa đẩy chúng tôi rong ruổi theo một thực tại không hề tồn tại nhưng hiện thực trong tầm tay bởi sự thách thức của tình yêu. Với sự thách thức đó, mỗi người trong chúng tôi sống và đi tìm một cái gì đó, một ý nghĩa nào đó cho sự sống hay lẽ sống cho chính mình. Có phải chăng, đó là tình yêu, là hạnh phúc, là tài sản, danh vọng hay quyền lực. Nếu thế, ta phải trả giả bằng sự đọa đày tâm trí, làm khổ nhọc hình hài để đuối bắt những gì mà tự cho nó là tinh hoa của đời sống. Nhưng một khi có những khoảnh khắc bình an nội tại, ta chợt nhận rằng cái lẽ sống như thế thật phù du, được bao phủ bởi ảo ảnh trùng trùng.

Thế nhưng, còn có những phương trời cao rộng đan dệt bằng con đường chí thiện mà nơi đó ta nhìn thấy những giá trị cao cả của đời sống, giá trị cao hơn các nấc thang mà xã hội đã thiết chế nên một trật tự được tô điểm vẽ vời. Và dường như có rất ít người chọn lựa phương trời như thế.

*      *

*

Bây giờ ngày qua ngày, giật mình ngẫm lại, nhìn bóng thời gian đi qua, mấy ai không đầu bạc ngồi đợi gió sang canh. Bởi vì con nước trôi xuôi nên bến bờ cô độc. Phố thị với những khủng hoảng cơ giới trầm trọng. Rồi những đêm theo dõi bóng trăng mờ, tìm về “cây đa bến cũ, con đò năm xưa”  để “đưa em sang sông/ chiều xưa mưa rơi âm thầm” nay còn đâu?. Âm hưởng của bản tình ca Nhật Ngân chợt đẩy tâm tư người viết vào những bước đường phiêu lưu của lịch sử. Lịch sử bồng bột như tấn kịch trên sân khấu ồn ào, khi hạ màn chính là lúc tỉnh mộng thấy mình như nghệ sĩ cô đơn lạc loài. Anh đã xót xa trong tâm sự đó và gửi gắm trong bản tình ca “Sỏi đá buồn tênh”, mà đã có lần được ca sĩ tên tuổi Khánh Ly đồng cảm chia sẻ qua giọng hát trầm buồn của mình trên sóng nhạc hải ngoại.

Tôi ghi chép bài hát giới thiệu với các bạn để thưởng thức và chia sẻ nỗi sầu trường mộng nhân sinh của nhạc sĩ quá cố như một kỷ niệm buồn thời còn trên ghế nhà trường và thầm cầu mong anh siêu thoát khỏi chốn trần gian.

“ Đôi khi ta thấy ta như viên đá cuội lăn trên đường

Nhìn dòng đời vô tình đi qua, hạt bụi nào vô tình bôi xóa

Đôi khi ta nghĩ mình ôi nhỏ bé như hạt sương treo đầu cành

Đôi khi ta thấy ta như bong bóng nhẹ bay lên trời

Nhìn cuộc đời như trò trẻ chơi, nhìn cuộc đời như tuồng sân khấu

Đôi khi ta nghĩ mình như hạt cát trong biển khơi ôi phù du

Còn lại em, còn lại em, ôi phương trời phiêu lãng

Mãi xa xăm áo em bay, ôi khuất lấp mây trời

Vòng tay xanh, vòng tay xanh, ôi vòng tay đã mỏi

Tiếng hát nào, tiếng hát nào, bây giờ chỉ còn âm xưa

Đôi khi ta thấy ta như con bướm lạ bay vô vườn

Rồi dật dờ trên ngàn muôn hoa, rồi lặng lờ im lìm trong lá

Đôi khi ta nghĩ mình như là đá, ôi lặng câm, ôi buồn tênh!”

 Đà Nẵng, những ngày cuối thu

Đặng Công Hanh

TÂM SỰ TUỔI THẤT THẬP

Có thể nói, thế hệ chúng ta và các thế hệ kế cận đã sống trong thời kỳ mà cuộc chiến diễn ra ở cường độ cao nhất cùng với sự hủy diệt, và tàn phá trên qui mô tàn bạo. Một phần sự sống đã bị tước đoạt, bị loại bỏ một cách chậm rãi,  thay vào đó là khoảng trống phi lý trong đôi vòng tay suốt tuổi học trò đang lớn dần trong tâm hồn. Đó là một thứ quà tặng mà chất liệu là sự sụp đổ, tàn phá và mất mát không có đền bù trong suốt lề tồn sinh.

Rõ ràng, chúng ta đã bước đi trên con đường trước mắt không phải chính mình đã nhìn thấy khi ánh bình minh xuất hiện, mà do dấu tích hay lối mòn nhiều thế hệ trước đó đã đi. Mỗi người trong chúng ta sống và đi tìm một cái gì đó, một ý nghĩa nào đó cho sự sống hay lẽ sống của mình như tình yêu, hạnh phúc, tài sản, danh vọng… hay nói cách khác, là sự thúc đẩy bởi cái khát vọng chinh phục.

Sự chinh phục như thế dù thành công hay thất bại cũng chỉ dừng lại là ước vọng. Vó ngựa của Thành Cát Tư Hãn không chùn bước trước kẻ thù nào, nhưng tâm tư của Đại Hãn lại bất an khi nhìn sâu vào cuối con đường chinh phục thấy một bóng dáng đang thấp thoáng đợi chờ, đó là kẻ thù cần phải chinh phục sau cùng: cái định mệnh đam mê trong chính mình

Tuổi trẻ thường được nhắc nhở, khuyên bảo dạy dỗ rằng: “Làm trai cho đáng nên trai, xuống đông đông tịnh lên đoài đoài yên“. Thế mà, khi đối mặt thực sự với cuộc đời, giấc mộng đó trở nên hư ảo phũ phàng.

Rồi tôi lớn lên đi vào đời chân bước

Cỏ mùa xuân bị giẫm nát không hay.

(Bùi Giáng)

 Ta tự hỏi, phải chăng sự đọa đày tâm trí, khổ lụy hình hài như thế để đuổi bắt những gì mà mình cho là tinh hoa đời sống. Cái tinh hoa đó nếu có thật, cũng chỉ là tín hiệu của giá trị tồn tại, phải xếp đứng sau những gì làm dưỡng chất cho tồn tại theo nghĩa phổ quát. Bởi vì, nhu cầu về vật chất tiêu thụ cho những đòi hỏi duy trì đời sống sinh học con người là cái làm nền tảng cho sự phát triển cao hơn. Tuy nhiên, sự ham muốn thỏa mãn dục lạc con người là vô hạn, khó kìm hãm nổi. Tâm lý chung, lại muốn giàu có, lại vừa rảnh rang hưởng lạc thú cuộc đời. Phải chăng đó là sức cám dỗ của nền văn minh tiêu thụ được hình thành trên mẫu hình kinh tế phương Tây.

Theo định lý “bàn tay vô hình” của nhà kinh tế nổi tiếng Adam Smith, có nói ràng “một cá nhân hành xử trên cơ sở lợi ích riêng của mình thì lợi ích xã hội sẽ được nâng cao”. Sự thật không thể chối cải là tính vị kỷ này là động cơ thúc đẩy sự thèm muốn và kết nối bền chặt với lòng thù ghét, đố kỵ, ảo tưởng và các căn nhân bất thiện khác đã đẩy xã hội đến hố thẳm của sự cùng cực. Vì thế, khi chứng kiến sâu sắc những biến động, phũ phàng của lịch sử dân tộc từ hậu bán thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ, cụ Nguyễn Du mới viết nổi truyện Kiều với hai câu thơ mở đầu thật chua chát và cay đắng trong thân phận Thúy Kiều, như tâm tư chúng ta đã trải nghiệm cuộc ly tán, lớn lao của dân tộc giữa thập niên 70.

“Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…”

Cớ sao con người phải gặp kiếp nạn này hay nói như Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là sinh nhầm thế kỷ. Có một giải đáp vượt lên những quan điểm cực đoan, tránh xa những tự biện dài dòng hàm chứa những giá trị phù hoa không thực chất, cuốn theo những lớp phong ba quay cuồng của lịch sử, thoát ly những đoạn đường khổ lụy, lưu đày trong cõi nhân sinh, ngài Mahatima Gandhi, nói:

“Trái đất có đủ lương thực để nuôi dưỡng con người nhung không đủ để nuôi dưỡng lòng tham quá độ của con người”.  Chính vì thế, Radhakrisnan, một triết gia, đồng thời là Tổng thống của Ấn Độ, cũng nhấn mạnh: “Hãy sống và hãy để cho người khác sống với” .

Trong thế giới thực, buồn vui với tình đời, tình người, trong khoảnh khắc tan biến vào một thế giới nhiễu nhương sống sượng, để vật lộn với nhân sinh, khắc khoải với tồn tại hay không tồn tại, với bom đạn tai bay vạ gởi, nhà thơ Huy Cận đã viết tâm sự thật sâu lắng cái bế tắc muôn đời.

“Tâm tình một nẻo quê chung

Người về cố quận muôn trùng ta đi…”

(Lời cố quận)

Thế còn tình yêu, tình yêu luôn luôn chọn vùng nào nhức nhối trong thân thể mà tồn tại và trưởng thành. Quả thật tình yêu thì cô đơn và có phải tình yêu cũng phi lý như chiến tranh. Chưa có ai phản đối rằng ham muốn là điều tự nhiên và đóng vai trò là động cơ trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Ham muốn hay tham dục chỉ như một cơn thèm khát có tác dụng dằn vặt tâm trí có bản chất khác hẳn với khát vọng sâu xa nảy sinh từ cuộc sống. Dù mang tính tự nhiên, tham dục nhanh chóng biến chất để chuyển thành “độc tố của tâm thức” ngay khi nó trở nên gay gắt, ám ảnh và chấp thủ một cách không kiểm soát được.

– Tình yêu vị kỷ thông thường của chúng ta thời trai trẻ chính là một dạng dục vọng ám ảnh mang tính chiếm hữu, và chia sẻ cuộc đời với người khác. Say mê lãng mạn chính là một ví dụ kiểu mù quáng này, nó đã được nuôi dưỡng bằng những tưởng tượng phóng đại và bằng ảo vọng làm ảnh hường tới sự xét đoán. Ám ảnh gây ra một tình trạng đau khổ triền miên và lo âu trong đó pha trộn cả ham muốn, chán chường và mệt mỏi. Dưới tác động của yếu tố bên ngoài như hình dáng, âm thanh, xúc chạm, mùi hương, hay một kỷ niệm nào đó dần dần biểu hiện cho hình ảnh trong tâm thức hay trong suy nghĩ của chúng ta. Chấp thủ là nguồn gốc của khổ đau vì tình yêu vị kỷ tự bản chất là không ngừng.

Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ nổi tiếng ỏ dòng “Thơ tình học trò” , khi lúc tuổi học trò của chúng ta độ mới lớn, nhiều mơ mộng, chưa nhiễm độc tố cuộc đời, nên nhanh chóng đồng cảm ý thơ của ông.

“Yêu mê thế để mang sầu trọn kiếp

Tình mười năm còn lại chút này đây

Lá thư tình xưa nhớ lúc trao tay”

Chúng ta không ngạc nhiên khi ngài Đalai Lama nói rằng tình yêu lãng mạn là “không thực tế lắm. Đó đơn thuần là ảo tưởng, không xứng đáng với những nỗ lực mà người ta dành cho nó”. Ta có thể hiểu ý của ngài ở chỗ rằng chính say mê tình dục đã đánh thức mạnh mẽ sức lực từ 5 giác quan (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân) về sự bám chấp, thắt chặt thêm những gông cuồng gây ra đau khổ cho mình.

– Tình yêu vị tha là một niềm vui được chia sẻ một cuộc sống với bạn bè, người thân gần xa khiến họ hạnh phúc. Ta thương mến họ vì họ là như vậy, không thông qua lăng kính vị ngã.  Tình yêu tha nhân đích thực là mong muốn mọi người tránh được khổ đau và hạnh phúc. Tình yêu thương này là cánh cửa đi vào nội tâm, không còn để chỗ cho vị kỷ và sợ hãi, nó giúp chúng ta hoan hỷ cho và biết ơn khi nhận. Nó là cách thể hiện bản chất cao nhất của con người chừng nào bản chất này chưa bị ô nhiễm tối tăm, méo mó vì những thủ đoạn của bản ngã. Nó làm nảy sinh trong mình một lòng nhân hậu cao thượng đến mức có thể xem tất cả mọi người như cha mẹ, anh chị em hay như con cái của mình.

Trong cuộc sống hàng ngày, ta có thể nhận thức được sự khác nhau của hai loại tình yêu này. Loại người thứ nhất luôn luôn tỏ ra khó chịu và bất mãn, sự hẹp hòi tâm trí đã ngăn cản họ với những cá nhân khác mà họ cảm thấy không lấy được cái gì cho mình. Loại người thứ hai có tâm trí cởi mở và ít nghĩ đến bản thân. Đây là sức mạnh nội tâm khiến những phiền muộn khó ai lụy đến họ. Người ta nói rằng, lòng thương vị tha và tính tự chủ là những dấu hiệu của tri thức và sự vượt thoát những xúc cảm tiêu cực là dấu hiệu của suy tưởng của hoài niệm. Những phẩm tính này sẽ ăn sâu trong sự tồn tại và đồng thời thể hiện trong hành xử của chúng ta trong thế giới chung quanh.

*

*        *

Thưa các bạn!

Thời đại ta đã sống và lớn lên, một phương trời khói lửa, một dân tộc quằn quại trong bi kịch chiến tranh. Vẫn âm vang câu hỏi nghìn đời, sống và chết, ai còn, ai mất? Bức tranh vân cẩu của thế hệ ấy, của thời đại ấy, cõi nhân sinh ấy, là gì?

Ngược xuôi bao kẻ đi về

Tấm thân bé mọn bên lề tồn vong.

(Hoài Khanh)

Mò mẫm nhặt từng hạt sương trong bài viết của các bạn, mà chợt nghe  bùi ngùi âm thầm bởi đâu đó trong hoài niệm xa xưa, đôi mắt u huyền của một thời, một đoạn đời đã thành thiên cổ. Những hạt sương trong lòng tay chợt thoáng tan, dòng thời gian ngừng đọng để đông cứng thành hạt bụi, ray rứt.

“Thôi nhắc làm chi màu hoa cúc

Áo em vàng, đau nỗi chia ly…”

(Hồ Cư Lâm Tuyền Linh)

Cả khung trời hoài niệm. Có quá nhiều điều được nói với những chất liệu thâm trầm cung bậc, những trong tận cùng của những điều được nói là một thế giới im lặng chứa đầy hoài niệm về những gì không hề xảy ra. Trưởng thành và mất mát, chúng ta có thể thành công trong nhiều phương diện, nhưng có một thứ thất bại lớn lao không thể đền bù tương xứng, đó là sự mệt mỏi. Sự mệt mỏi như một vết thương nằm ẩn kín trong vùng nhức nhối nhất của thân thể, trong tâm thái ngồi đợi gió sang canh. Lịch sử vết thương chỉ khép lại cùng với chung cuộc của lịch sử đời người, dẫu biết đó vốn là vết tích của cánh nhạn bay qua cuối trời vạn dặm.

“Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau”

(Bùi Giáng)

Đà Nẵng, 3/8/2017

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu